Thứ Hai, 25 tháng 12, 2017

Huế hôm nay

Huế hôm nay

“Huế đã có một ngày giỗ chung cho tất cả mọi người chết, ngày mà người ta nhìn thấy nhiều đống xác người. Nhưng bây giờ lại có thêm nhiều thân người nữa. Sự tàn phá cũng càng ngày càng nhiều. Nước mắt của người dân Huế đã đủ để làm dòng suối nhỏ. Những ngôi mộ ở chùa Áo Vàng, tại Bãi Dâu, tại Kim Long, tại Long Thọ, là những dấu vết của một bạo lực hung ác, không có thể quên được trong tâm hồn những người còn sống.”
hue-homnay-04
Là những dòng chữ viết tay của Trịnh Công Sơn sau Mậu Thân. Tôi đã nghe ông hát Nối Vòng Tay Lớn trưa 30 tháng 4 trên đài phát thanh Sài Gòn. Tôi đã xem phim Đất Khổ, phim duy nhất ông đóng trên nền gạch vỡ của Huế. Tôi muốn tin ông không theo phía bên kia vì đã chứng kiến tận mắt những đầu lâu mà xương sọ bị đập nát. Ông đã nhìn thấy xác vùi nông ở chùa Áo Vàng, chôn tập thể ở Bãi Dâu, Kim Long, Long Thọ. Ông biết rõ phía bên kia tàn ác. Nhưng vì sao ông kêu gọi:
“Tôi yêu cầu các văn nghệ sĩ cách mạng miền Nam Việt Nam hợp tác chặt chẽ với Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam. Những kẻ đã ra đi chúng ta xem như là đã phản bội đất nước.
Chúng ta là người Việt Nam. Đất nước này đất nước Việt Nam. Chúng ta ở trên đất nước chúng ta.
Chính phủ Cách mạng Lâm thời sẽ đến đây với thái độ hoà giải tốt đẹp. Các bạn không có lý do gì sợ hãi để phải ra đi cả.
Đây là cơ hội đẹp đẽ và duy nhất để đất nước Việt Nam thống nhất và độc lập. Thống nhất và độc lập là những điều chúng ta mơ ước từ mấy chục năm nay.
Tôi xin tất cả các bạn, thân hữu cũng như những người chưa quen với tôi xin ở lại và chúng ta kết hợp chặt chẽ với Ủy ban Cách mạng Lâm thời để góp tiếng nói xây dựng đất miền Nam Việt Nam này.
Tôi đã gặp tất cả anh em ở trong Ủy ban Cách mạng Lâm thời. Hiện tại chúng tôi đang ở tại đài phát thanh Sài Gòn và tôi mong các bạn chuẩn bị sẵn sàng để đến đây góp tiếng nói, lên tiếng để tất cả mọi người đều yên tâm. Và tôi xin tất cả các anh em sinh viên học sinh của miền Nam Việt Nam này hãy yên ổn kết hợp lại với nhau, khóm phường đều kết hợp chặt chẽ chuẩn bị để đón chờ Ủy ban Cách mạng Lâm thời đến.
Xin chấm dứt. Và tôi xin hát một bài. Hiện tại ở trên đài thì không có đàn ghi-ta. Tôi xin hát lại cái bài “Nối vòng tay lớn”. Hôm nay thật sự cái vòng tay lớn đã được nối kết.”
Vì ông muốn chấm dứt chiến tranh, chấm dứt cảnh người Việt giết người Việt, bằng mọi giá? Lời khuyên ở lại của ông không ai theo, trừ những gia đình không phương tiện, thuyền nhân sẽ chứng minh là ông sai.
Tôi vẫn muốn giữ lại trang tùy bút ông viết, vì ông đã xúc động, giận dữ và buồn bã thật sự. Ông đã kết án và chứng nhận thảm sát Mậu Thân có thật, điều mà tất cả anh em ở trong Ủy ban của ông đến hôm nay vẫn chối. Nhưng ông đã ra đi và hai tháng nữa là Tết Mậu Tuất, đã 50 năm Mậu Thân. Một Tết kinh dị “không có thể quên được trong tâm hồn những người còn sống.”
Trần Vũ
Một cửa sổ của căn phòng bẩn thỉu nơi tôi đang sống đã nhìn ra phía ngoài một góc thành phố đông đúc. Trong một buổi chiều, tôi nằm dài yên lặng trên ghế bố, nhìn ra ngoài cửa và tôi nhớ Huế.
Từ cửa sổ ngó ra, Huế, là hai cây bông bụt đỏ ối, những làn mưa nghiêng nghiêng trong một bầu trời ảm đạm.
Mỗi năm vào tháng này, tôi đi Huế. Ði ở đây, có nghĩa là trở về với những cái gì tầm thường nhưng quý giá: một căn nhà chật hẹp, một tô bún bò gạo giã, bạn bè tại những quán cà phê nhỏ Mệ Tồn và giữ Huế trong tay suốt mùa hạ. Bản chất của Huế nằm trong kích thước nhỏ bé của nó. Nó không ồn ào và bận rộn. Những lề đường của Huế thân mật. Trên con đường của thành phố, bạn có thể giơ tay vẫy bạn bè suốt ngày. Khách lạ mới tới Huế có cảm tưởng rằng tất cả mọi người ở Huế đều có họ hàng với nhau.
hue-homnay-03
Trước hết, tôi trở về để thưởng thức những vật tầm thường nhỏ bé đó. Tôi đã thưởng thức nó trong một thời gian ngắn trước khi biến cố Mậu Thân xảy ra.
Một sự sợ hãi lớn lao đã đến với Huế. Thật là điều khó khăn đối với tôi để quên, mùi xác thịt thối rữa trên đường Lê Lợi khi tôi cùng gia đình tản cư ngang qua đó. Hai hàng cây trước kia che chở đại lộ bằng những bóng mát cũng bị tróc gốc và trở thành những chướng ngại vật cho chúng tôi.
Nhìn vào Huế tháng Hai, tôi thấy một bộ mặt sụp đổ của thành phố cổ kính. Tôi nghe giọng buồn nhất ở khắp nơi trong địa ngục kéo dài suốt tháng này. Họ là những người còn sống sót trong những cuộc chém giết, dường như họ chỉ còn thân xác mà không còn hồn. Nỗi buồn trốn mất khi nỗi đau khổ quá lớn. Tất cả dân Huế sống cùng với nhau trong suốt khoảng thời gian nguy hiểm nhất, đều đã thở bầu không khí bẩn thỉu nhất của trại tị nạn. Tất cả đều đã được biết sự tận cùng của đau khổ. Tôi nhìn những căn nhà bên kia sông bị nổ tung vì đạn đại bác, tạc đạn rơi trên dòng sông Hương, làm mặt nước tung bọt trắng xoá. Trong những ngày đầu của trận chiến, gia đình và tôi ngồi yên lặng trong nhà. Buổi sáng đi qua trên những khuôn mặt khổ não. Các anh tôi và tôi ngồi nhấp nháp rượu trong khi đạn réo ngang đầu. Qua khung cửa, chúng tôi nhìn thấy những người lính Bắc-Việt di chuyển, nấu ăn, đào hố trong vườn trước mặt nhà. Ðó là những ngày đẹp trời của mùa xuân, với những giọt mưa nhẹ như sợi chỉ đan vào nhau và không khí lành lạnh. Tôi muốn tản bộ dọc theo những con đường đầy bóng mát trước cửa nhà. Tôi muốn có cốc cà phê ở một tiệm bên kia sông, trong nội thành, đằng trước Trường Âm nhạc và Mỹ thuật.
Nhưng tôi đã ngồi bất động hơn 15 ngày. Anh tôi và tôi ví những ngày của chúng tôi với những ngày của Anne Frank.
Tôi không biết bây giờ những gì có thể tìm thấy, khi tôi trở về Huế. Những cây cầu bắc ngang qua dòng sông nhỏ đã bị gãy. Tất cả mọi cây cầu An Cựu, Khe Ron, Phú Cam, Bến Ngự, Nam Giao, v.v… Một trong những cây cầu này đã chứng kiến sự trưởng thành của người bạn gái thân nhất, những dấu chân của nàng đã in hằn trên đó khi đi đến trường.
Khu nhà tôi ở bây giờ đã trở thành bãi dây kẽm gai. Căn nhà tôi, một phần lớn bị tàn phá, đã đầy rác. Ngày đầu tiên tôi trở về. Tôi ngồi duỗi dài chân tay trên một cái giường bị gãy và nhìn giọt mưa nhỏ rơi trên tôi, từ chỗ trống của mái nhà, tôi nghĩ rằng đang mơ. Thật sự, Huế chẳng còn gì cả. Bầu không khí thanh lịch, ấm áp của ngày xưa sẽ không bao giờ trở lại. Các kho tàng cổ kính và quý giá của Huế đã bị bom đạn đốt cháy.
Chỉ trong vòng hai tháng, tất cả mọi người dân của thành phố Huế đều trở thành những công nhân. Tập quán cổ truyền có từ lâu của một lối sống vương giả ở những gia đình ngày xưa đã bị xoá đi mất. Tôi đã nhiều lần bước ngang qua cầu Tràng Tiền gãy đổ nhiều nhịp. Tôi qua dòng sông Hương với con thuyền đầy người. Còn đâu sự êm đềm trong tâm hồn thành phố. Rất khó kiếm thấy một chỗ không bị lỗ chỗ bởi những hố bom.
Những con đường tráng nhựa sạch sẽ thuở nào nay đã trở nên lộn xộn, bẩn thỉu. Từng đám bụi bay lên cao suốt ngày ở hai con đường chính. Một bảng quảng cáo của rạp hát Châu Tinh vẫn còn treo ở trước cửa chợ Ðông Ba. Phim này dường như cũng là một điềm gở: Le Temps du Massacre.
Máu đã chảy và thấm xuống đất thành phố. Tôi đã mất nhiều thời gian ngồi trong quán cà phê trên đường Trần Hưng Ðạo để quan sát những người qua lại buồn phiền, những người đã thăm được chiều sâu của sự buồn phiền. Tôi nhớ rằng tôi đã không tắm, không thay quần áo và không cạo râu cắt tóc trong hai tháng.
Vụ thảm sát hồi Tết Mậu Thân ở Huế
                     Vụ thảm sát hồi Tết Mậu Thân ở Huế
Sau giờ giới nghiêm, thành phố còn trở nên bi thảm hơn. Cửa nội thành đóng, đường phố bị bao phủ bởi một bầu không khí lạnh lẽo của bãi tha ma. Những ngôi mộ mới mọc lên như nấm dọc theo những con đường và lề đường trong công viên, trong vườn cam Tây Lộc và trong những cánh đồng nơi đàn bò ăn cỏ. Những bức tường của thành nội cũng đầy những vết đạn. Có lẽ hương hồn của những vị vua chúa ngày xưa và những quan lại cũng sợ hãi. Huế luôn luôn được nếm mùi bất hạnh. Từ lụt lội, bão tố trong quá khứ cho đến sự tàn phá của hàng ngàn căn nhà, hàng ngàn gia đình trong cuộc chém giết tàn nhẫn ngày hôm nay, người dân Huế đã phải học cách sống trong kiên nhẫn. Huế dường như bị cột chặt vào định mệnh khắc nghiệt. Sẽ không bao giờ có thành phố Huế cổ kính ngày xưa nữa. Tại đây, dân chúng không bao giờ có dịp để làm giàu một tháng hay một ngày. Cần phải 4 thế hệ: ông, cha, con và cháu, mới có thể xây dựng một căn nhà. Căn nhà được truyền từ đời nọ sang đời kia, và những người nào phải xa nhà, đều vẫn có thể nhớ từng cột nhà, từng sà nhà, từng bậc cửa.
Vì thế phải cần một thời gian lâu, mọi người có thể nhìn Huế mà không nhìn thấy khuôn mặt bị tàn phá. Huế của ngày xưa đã biến mất đi khi mái cao của cửa Thượng Tứ và cửa Ðông Hoà đã bị tàn phá và đầy lỗ thủng.
Tôi bước dọc theo đường thành nội nơi mà hàng ngàn căn nhà đã bị đốt cháy rụi.
Tôi đi lên An Hoà, đứng trên ngọn đồi Uông Voi và nhìn chung quanh, cạnh những hố bom sâu hơn 10 thước. Nơi đây là nhà của hàng ngàn những gia đình nghèo khó. Họ đã trở về để nhìn lại những cây chuối non, những cột gỗ, những lăng tẩm, từng bậc đá ghi lại những dấu vết của những cái gì đã một lần ở đó.
Tất cả mọi thứ đều bị tàn phá. Huế đã phải lo cúng bái thêm nhiều linh hồn còn đi lang thang. Huế đã có một ngày giỗ chung cho tất cả mọi người chết, ngày mà người ta nhìn thấy nhiều đống xác người. Nhưng bây giờ lại có thêm nhiều thân người nữa. Sự tàn phá cũng càng ngày càng nhiều. Nước mắt của người dân Huế đã đủ để làm dòng suối nhỏ. Những ngôi mộ ở chùa Áo Vàng, tại Bãi Dâu, tại Kim Long, tại Long Thọ, là những dấu vết của một bạo lực hung ác, không có thể quên được trong tâm hồn những người còn sống.
Nhớ những ngày ở Huế trong tháng Giêng và tháng Hai, tôi không bao giờ có thể quên được những người mẹ chạy theo xe chở xác, đã mang đứa con trai của bà và trong khi chạy, bà đã vỗ tay cười suốt con đường lầy lội đất đỏ.
Tôi cũng sẽ không bao giờ quên được những người lính Mỹ ngồi dài trên lề đường, nhìn bà ta cười ngạo nghễ. Tôi cũng nhớ một người đàn ông già, bước những bước nặng nề, trên vai ông một cỗ quan tài bé, trên quan tài có cắm ba nén hương đang cháy.
Trịnh Công Sơn ngoài hiên ngôi nhà của gia đình phố Nguyễn Trường Tộ, Phủ Cam, 1969
  Trịnh Công Sơn ngoài hiên ngôi nhà của gia đình phố Nguyễn Trường Tộ, Phủ Cam, 1969
Huế đã sống qua những ngày tàn nhẫn. Hàng đoàn người đã đào lỗ để tìm xác cha, anh, mẹ hay chị. Những tiếng khóc của đám ma có thể làm rung chuyển cả núi rừng. Nhiều cái chết do sự ác độc của loài người gây nên. Ngày kia tôi lẩn trốn trong một thư viện của Viện Ðại học Huế, tâm hồn tôi là một tảng băng. Chung quanh tôi mọi vật đều bị tàn phai. Tôi không thể nói được gì cả, khi đời sống chỉ là một trò đùa. Trong một tháng, tôi đã sống ở nơi ẩm ướt, lạnh lùng, trong bầu không khí ảm đạm của thư viện. Tôi không biết phải làm cái gì với cảnh tàn phá này. Căn bản luân lý của chiến tranh đã ra khỏi giới hạn của năng lực loài người để chịu đựng.
Huế ơi! Tôi hy vọng có một ngày thanh bình nào đó, tôi có thể trở về để ăn bánh bèo ở cây Phượng, bún bò thịt nướng ở Kim Long, bún bò tiệm bà Rớt. Tôi muốn quay trở lại để ngủ đêm trên dòng sông Hương và gọi ông Bê mang cho tôi một bát bún, rất cay, cay đến chảy nước mắt. Tôi sẽ gọi cô con gái trên thuyền mang cho tôi một con mực nướng khô, một cốc rượu nhỏ, thật nhỏ để làm cho đêm trở nên ấm hơn, những bài hát nửa đêm trở nên hay hơn và giấc ngủ hiền hoà hơn trong lúc sông lặng lờ trôi…
Trịnh Công Sơn
Trích từ tập Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay của Tạ Tỵ, Lá Bối xuất bản tại Sài Gòn ngày 29-1-1972.   
http://vuottuongluaonline.com
(*) Le Temps du Massacre (Thời kỳ Thảm Sát) là phim cao bồi với Franco Nero thủ vai Django.
VÌ SAO CÔNG AN ĐÀ NẴNG ĐỂ LỌT VŨ NHÔM?
Dư luận những ngày này đang sôi lên vì Vũ Nhôm đã trốn thoát. Nhiều người đang đặt vấn đề trách nhiệm của Bộ Công an, đặc biệt là Công an Thành phố Đà Nẵng, nơi mà Vũ Nhôm đăng ký thường trú.
Đại tá Lê Công Thạnh - nguyên Phó Chỉ huy trưởng về Chính trị Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (cũ) thẳng thắn đặt câu hỏi: “Sáng nay tôi đọc báo thấy đã phát lệnh truy nã Phan Văn Anh Vũ. Tôi băn khoăn như vậy thì Phan Văn Anh Vũ đi lúc nào? Tại sao trước nay đã biết có nhiều thông tin liên quan Vũ “nhôm” như thế lại không có biện pháp quản thúc, để Vũ trốn mất? Có vấn đề gì ở đây không?”
Trước câu hỏi về trách nhiệm, đại tá Trần Đình Liên, Phó giám đốc Công an TP.Đà Nẵng, giải thích chủ trì vụ án này là Bộ Công an nên Công an TP.Đà Nẵng chỉ là đơn vị phối hợp. Và sau khi Bộ có quyết định truy nã thì theo nghiệp vụ lực lượng Công an TP.Đà Nẵng phải thực hiện.
Tuy nhiên theo Báo Thanh Niên, thì việc tiến hành điều tra Vũ Nhôm diễn ra đã lâu, do đó nếu Công an TP Đà Nẵng viện dẫn lý do “chỉ là đơn vị phối hợp” để né tránh trách nhiệm thì thật là chưa thỏa đáng.
Chưa biết sự tình thế nào, song có một chi tiết đáng chú ý liên quan tới người đứng đầu ngành Công an TP Đà Nẵng hiện nay, Đại tá Giám đốc Lê Văn Tam, cần được lưu tâm. Hiện ông Tam đang sống trong khu Euro Village (Làng Châu Âu) sang trọng bậc nhất của thành phố. Biệt thự của ông Tam có diện tích hơn 500m2, với giá thị trường vào khoảng 50 triệu/m2, nên chỉ riêng giá trị đất (25 tỷ VND) đã biến ông Tam thành một trong những người cán bộ triệu phú đô-la của chính quyền thành phố. Điều này lâu nay gây dư luận âm ỉ trong ngành công an, cũng như toàn thể hệ thống chính trị thành phố, khi mà nhiều chiến sĩ, công chức chật vật ở nhà thuê vì không thể mua được nhà với đồng lương ít ỏi, thì người đứng đầu ngành công an lại sở hữu một bất động sản giá trị cao tới cả triệu đô la Mỹ như thế.
Thêm nữa, đây là một khu vực biệt lập (subdivision), ra vào có trạm gác kiểm tra. Không rõ điều này có phần nào ảnh hưởng tới chất lượng điều hành, việc sâu sát cơ sở, nắm chắc quần chúng của Giám đốc Lê Văn Tam, dẫn đến việc Vũ Nhôm có thể trốn thoát dễ dàng như vậy hay không?
- Một sĩ quan an ninh Đà Nẵng chính nghĩa -
------//------
Ảnh: Khu Euro Village (Làng Châu Âu) sang trọng bậc nhất ở thành phố Đà Nẵng. Biệt thự hơn 500m2 của Đại tá Giám đốc CA TP Lê Văn Tam nằm trong khu này.
                                                           
Trong hình ảnh có thể có: bầu trời và ngoài trời
Link liên quan:
Tác giả gửi đến Dân Luận.

Vũ Nhôm tháo chạy khỏi đất vàng Sài Gòn, gom tiền trước khi bỏ trốn


 
       Vũ Nhôm tháo chạy khỏi đất vàng Sài Gòn, gom tiền trước khi bỏ trốn

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, văn bản


Cổ đông tư nhân lớn nhất tại Seaprodex thoái vốn tháo chạy khỏi doanh nghiệp sở hữu dự án đất vàng ngay tại con phố vàng Đồng Khởi, Quận 1, TP.HCM.
Theo Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), cổ đông lớn thứ 2 tại Tổng công ty Thủy sản Việt Nam - CTCP (Seaprodex, mã SEA) là CTCP Đầu tư và phát triển Chấn Phong đăng ký bán hết hơn 25 triệu cổ phiếu SEA, tương ứng 20,1% vốn điều lệ trong khoảng thời gian từ 18/12 tới 17/1/2018.
Chấn Phong vốn có tên cũ là CTCP Nova Bắc Nam 79, là cổ đông lớn thứ 2 của SEA, sau Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (nắm 63,38%).
Với mức giá hơn 15 ngàn đồng như hiện tại, thương vụ sẽ mang về cho ông Phan Văn Anh Vũ (Vũ Nhôm), thành viên HĐQT SEA, đại diện cho CTCP Nova Bắc Nam 79 một khoản tiền khoảng 650 tỷ đồng.
Seaprodex đưa 125 triệu cổ phiếu lên giao dịch trên UPCoM từ ngày 23/12/2016 với giá tham chiếu trong ngày giao dịch đầu tiên 11.400 đồng/cổ phiếu.
Ban đầu, Seaprodex chỉ có 2 cổ đông lớn là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nắm giữ 63,38% vốn (79,2 triệu cổ phiếu) và nhóm cổ đông liên quan đến CTCP Xuất nhập khẩu tổng hợp Hà Nội (Geleximco).
Hai cổ đông lớn xuất hiện sau đó là Nova Bắc Nam 79 và Công ty TNHH Bất động sản Anh Tú (sở hữu 13,4% vốn điều lệ).
Seaprodex là chủ đầu tư dự án đất vàng 2-4-6 Đồng Khởi, Quận 1, TP.HCM với dự định xây tòa nhà cao 20 tầng với tổng đầu tư 1,5 ngàn tỷ đồng.
Trong phiên cuối tuần trước, thị trường chứng khoán (TTCK) tiếp tục sôi động với khối ngoại tiếp tục mua ròng. Hàng loạt các cổ phiếu trụ cột như VCB, VIC, GAS đồng loạt bứt phá giúp thị VN-Index vượt 950 điểm.
Theo CTCK FPTS, thị trường đang có cơ hội tiếp diễn xu hướng tăng giá. Trong thời gian ngắn sắp tới thì thị trường cũng sẽ bước vào đợt công bố thông tin về kết quả kinh doanh quý 4 và cả năm 2017. Do vậy, mỗi khi thị trường rung lắc là cơ hội mua cổ phiếu tốt giá thấp hơn.
Còn theo VCBS, kinh tế vĩ mô ổn định tiếp tục là yếu tố hỗ trợ đà tăng trung hạn. Tuy nhiên, dòng tiền có sự chọn lọc kỹ lưỡng hơn khi nhà đầu tư đang tìm đến các cổ phiếu có triển vọng kinh doanh tích cực trong Quý 4, 2017 cũng như 2018.
Kèm theo đó, khi thời điểm kết thúc năm, các nhà đầu tư có xu hướng tạm thời nghỉ ngơi và không quá hào hứng giải ngân trong giai đoạn này, nhất là sau một năm tăng trưởng ấn tượng như 2017. Vì thế, nhiều khả năng chỉ số chung sẽ khó có thể bứt phá, thay vào đó là sự ổn định đi ngang tích lũy trong thời gian còn lại của năm.
Về tổng thể, quy mô trên TTCK tiếp tục cải thiện. Tuy nhiên, thị trường đang có bước dừng lại do khối ngoại đảo danh mục và giảm giao dịch trước kỳ nghỉ lễ tết.
Đóng cửa phiên giao dịch ngày 22/12, VN-index tăng 6,26 điểm lên 952,32 điểm; HNX-Index giảm 0,53 điểm xuống 113,03 điểm. Upcom-Index tăng 0,2 điểm lên 54,7 điểm. Thanh khoản đạt 250 triệu cổ phần được giao dịch. Giá trị đạt gần 8,5 ngàn tỷ đồng, cao hơn mức trung bình những tuần sôi động gần 4,8 ngàn tỷ đồng hồi tháng 6-7.
Theo H. Tú
VietnamNet

http://dantri .com .vn/kinh-doanh/vu-nhom-thao-chay-khoi-dat-vang-sai-gon-gom-tien-truoc-khi-bo-tron-20171225145248403.htm

Thứ Sáu, 22 tháng 12, 2017

Trung tâm Sài Gòn như chưa từng có chiến dịch dẹp vỉa hè

Trung tâm Sài Gòn như chưa từng có chiến dịch dẹp vỉa hè

Vỉa hè quận 1, 3, 5, 10, Bình Thạnh... sau vài tháng chính quyền ra quân rầm rộ để chấn chỉnh, nay bị tái chiếm nghiêm trọng.

Trung tâm Sài Gòn như chưa từng có chiến dịch dẹp vỉa hè
Sau hai tháng đoàn liên ngành chấn chỉnh trật tự đô thị quận 1 dừng ra quân, hàng loạt vỉa hè các tuyến đường trên địa bàn bị tái chiếm tràn lan.
Trong ảnh là bốn ôtô đậu trên vỉa hè đường Hoàng Sa (phường Đa Kao) hàng giờ nhưng không bị xử lý, các biển quảng cáo cũng chiếm trọn lối đi bộ.
Trung tâm Sài Gòn như chưa từng có chiến dịch dẹp vỉa hè
Bốn ôtô đậu trước khách sạn 5 sao (phường Bến Nghé). Do khu vực này thường diễn ra hội nghị nên ôtô cũng đậu xếp hàng trên vỉa hè từ sáng đến trưa.
Trong các đợt ra quân trước, tuyến vỉa hè này liên tục bị đoàn liên ngành quận 1 xử phạt, chủ tịch phường từng bị đề xuất hạ chức. 
Tình trạng tương tự cũng xảy ra tại hàng loạt tuyến đường khác bất kể ngày đêm như: Trần Cao Vân, Nguyễn Văn Thủ, Hai Bà Trưng, Nguyễn Đình Chiểu, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Du, Nguyễn Thái Học...
Trung tâm Sài Gòn như chưa từng có chiến dịch dẹp vỉa hè
Trên đường Đặng Dung (phường Tân Định), trong khi các ôtô biển trắng đậu đúng quy định thì xe biển xanh của lực lượng đô thị phường lại nằm trên vỉa hè. 
Ông Hoàng Văn Dũng (63 tuổi, ngụ tại khu vực) cho biết vẫn thấy lực lượng trật tự đô thị đi kiểm tra nhưng cách làm hời hợt nên nhiều quán xá, ôtô vẫn vô tự chiếm dụng vỉa hè. 
"Tôi thường tập thể dục ven kênh Nhiêu Lộc nên biết, ngày trước quận xử lý ráo riết nên họ sợ, giờ toàn nhắc nhở. Như có ông đậu ôtô trên vỉa hè, đô thị tới ổng năn nỉ rồi lái xe đi ngon ơ, không bị phạt gì. Như thế họ nhờn luật mất", ông Dũng nói.
Trung tâm Sài Gòn như chưa từng có chiến dịch dẹp vỉa hè
Vỉa hè còn bị các quán cà phê, cửa hàng dựng xe máy chiếm trọn. Trong ảnh là quán cà phê đường Hoàng Sa (phường Tân Định).
Một phó chủ tịch cùng tổ trưởng trật tự đô thị phường này từng bị ông Đoàn Ngọc Hải (Phó chủ tịch quận 1) đề xuất hạ chức, luân chuyển vì để vỉa hè tái chiếm.
Theo lãnh đạo nhiều phường, lực lượng đô thị, công an ra quân ngày đêm, kể cả cuối tuần. Người đứng đầu phường cũng trực tiếp xuống đường nhắc nhở, tuyên truyền bà con.
"Chủ trương của quận 1 hiện tập trung tuyên truyền, nhắc nhở để người dân không chiếm vỉa hè. Những điểm nào thường xuyên tái diễn sẽ bị xử phạt. Chúng tôi cũng nghiên cứu, sắp tổ chức thêm các khu buôn bán ẩm thực theo giờ cho người bán hàng rong để sắp xếp lại vỉa hè", một lãnh đạo phường nói.
Trung tâm Sài Gòn như chưa từng có chiến dịch dẹp vỉa hè
Buổi làm việc của lãnh đạo phường Đa Kao. Khi phát hiện ôtô đậu vỉa hè, lực lượng chức năng nhắc nhở, sau đó lập biên bản xử phạt.
Theo ghi nhận, việc các lãnh đạo phường xuống đường chỉ kéo dài thời gian ngắn sau khi ông Hải ngừng ra quân. Hiện chỉ còn lực lượng trật tự đô thị chạy xe máy kiểm tra, nhắc nhở.
Trung tâm Sài Gòn như chưa từng có chiến dịch dẹp vỉa hè
Về đêm, tình trạng chiếm vỉa hè của nhà hàng, quán nhậu, ôtô diễn ra mạnh hơn; nhất là sau 21h và cuối tuần.
Từ 19h đến 20h, hàng quán tại đường Nguyễn Trung Trực (phường Bến Thành), Võ Văn Kiệt (phường Cô Giang, Cầu Ông Lãnh), Hoàng Sa (phường Đa Kao, Tân Định)... chuẩn bị sẵn bàn ghế. Đến 21-22h, họ đồng loạt bày ra vỉa hè cho thực khách ngồi.
Trung tâm Sài Gòn như chưa từng có chiến dịch dẹp vỉa hè
Theo nhiều chủ quán, lực lượng trật tự vẫn đi kiểm tra nhưng khoảng 21-22h họ nghỉ. Tận dụng thời điểm này, họ bung ra vỉa hè bày bán vì diện tích trong quán khá nhỏ, thực khách thích ngồi vỉa hè ngắm phố phường.
Trung tâm Sài Gòn như chưa từng có chiến dịch dẹp vỉa hè
Khu vực dưới chân cầu Mống (phường Nguyễn Thái Bình) từng bị đoàn liên ngành xử lý, giao trách nhiệm cho công an phường không để tái chiếm nhưng nay hàng quán vẫn tiếp tục được bày ra.
Hồi giữa tháng 10, đoàn liên ngành quận 1 dừng ra quân do lãnh đạo quận "không muốn ông Hải làm thay việc của cấp dưới", không phát huy được vai trò quản lý của chính quyền cơ sở.
Trung tâm Sài Gòn như chưa từng có chiến dịch dẹp vỉa hè
Một loạt mái che tạm bợ trên vỉa hè đường Trần Quang Khải (phường Tân Định) gây mất mỹ quan đô thị.
Theo chủ tịch TP HCM Nguyễn Thành Phong, việc lập lại trật tự vỉa hè ở địa bàn một năm qua có chuyển biến đáng kể nhưng chưa dứt điểm.
Ông biết đằng sau những gánh hàng rong là cuộc sống của cả một gia đình nên khẳng định "đẩy đuổi là không nhân văn" và chính quyền phải sắp xếp hợp lý.
Tuy nhiên, ông cũng nhất quán rằng không nên xem vỉa hè, lòng đường là nơi giải quyết công việc, xóa đói giảm nghèo.
Chiến dịch chấn chỉnh vỉa hè ở Sài Gòn được quận 1 khởi phát ngày 16/1. Từ thành công của quận, TP HCM yêu cầu 24 quận huyện làm theo. Khi công tác này ở quận 1 "hạ nhiệt", vỉa hè các quận 3, 5,10, Thủ Đức, Gò Vấp, Bình Thạnh... cũng trở về hiện trạng ban đầu, nhất là về đêm và cuối tuần.
Duy Trần

Thứ Năm, 21 tháng 12, 2017

Việt Nam sẽ đi về đâu?

Việt Nam sẽ đi về đâu?

IMG_4024.JPGTác giả: GS Nguyễn Văn Tuấn
VA: Một bài viết quá thẳng thắn. VN sẽ đi về đâu, cũng chính là câu hỏi mình từng nhiều lần suy nghĩ, và cũng từng là chủ đề của những cuộc trà dư tửu hậu. Và chưa bao giờ có câu trả lời 😦

Đó là một câu hỏi ám ảnh rất nhiều người quan tâm đến Việt Nam, kể cả tôi. Mặc dù một cách chính thức, Việt Nam theo đuổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa (XHCN), nhưng hình như chẳng ai biết hình thù cái XHCN đó ra sao, vì nơi khai sinh ra cái chủ nghĩa đó đã khai tử trước khi nó hình thành. Cũng chẳng ai biết khi nào thì đạt được XHCN, vì ngay cả ngài tổng bí thư từng nói “Đến hết thế kỷ này không biết đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa”. Nói tóm lại, chúng ta chẳng biết Việt Nam sẽ đi về đâu.
Nhìn qua con số thu nhập bình quân (GDP/capita) sẽ thấy Việt Nam ta đang ở đâu. Theo số liệu 2013, thu nhập bình quân của VN là 1901 USD, bằng khoảng 1/3 của Thái Lan (5779 USD). So với Mã Lai (11513 USD), Singapore (55182 USD) và Hàn Quốc (24400 USD) thì VN càng thê thảm hơn nữa. Có người tính toán bao nhiêu năm sau VN mới bằng Singapore, nhưng tôi nghĩ những tính toán như thế tuy rất thú vị nhưng chẳng có ý nghĩa gì khi khoảng cách quá xa. Tất cả các nước vừa kể đều theo Mĩ, chẳng có ai theo Tàu và chẳng ai muốn tiến lên XHCN cả.
Nhưng Việt Nam thì xem cái định hướng XHCN là một mục tiêu, một mục tiêu rất có thể là sai lầm. Giáo sư Đặng Phong (1939-2010) một chuyên gia kinh tế có uy tín từng nói về XHCN như sau: “Xã hội chủ nghĩa là sự vớt vát thuộc quá khứ mà mình không thể chấp nhận nó nữa, nhưng mình không thể thẳng thắn tuyên bố giã từ nó cho nên dùng một chữ rất mơ hồ chung chung như vậy. Bây giờ mà mải mê đi tìm xã hội chủ nghĩa thì không bao giờ tìm thấy giá trị thật của nó đâu. Cái nội dung thật của nó là cái gì thì không tìm thấy đâu. Nó là một món nợ của lịch sử. Người Việt Nam chưa bao giờ xây dựng chủ nghĩa xã hội như Liên Xô, nhưng Việt Nam đã đi theo con đường đó mà ngày nay chưa ai dám thẳng thắn tuyên bố rằng con đường đó là sai lầm.” Nói cách khác, XHCN là một sai lầm lịch sử, nhưng VN không dám nói đó là một sai lầm!
Thế nhưng người ta chẳng những không dám nói là sai lầm, mà vẫn phải nói đó là một mục tiêu cao cả! Người ta vẫn phải nói về mục tiêu XHCN, nhưng chính người nói có lẽ cũng không tin những gì mình nói. Vì nhiệm vụ và đồng lương nên phải nói, nhưng trong thâm tâm thì họ chắc gì đã tin. Một mặt, họ chỉ trích thế giới phương Tây, thậm chí xem Mĩ là kẻ thù, nhưng trong thực tế thì họ thích đi máy bay Airbus và Boeing, và thích gửi con cái sang Mĩ và các nước phương Tây học!
Đó chính là một “hội chứng” cực kì phổ biến trong xã hội ngày nay: “nói vậy mà không phải vậy”. Người ta làm nhưng không tin vào việc mình làm, nói nhưng không tin những gì mình nói. Họ dùng ngôn từ hoa mĩ để che đậy sự thật. Đó cũng là một cách tự bảo vệ mình, phòng ngừa những bất trắc, những soi mói lời ăn tiếng nói trong một thể chế chuyên chế.
Nhưng hội chứng trên còn lan tràn sang mối liên hệ giữa người dân và lãnh đạo. Lãnh đạo cứ đọc diễn văn, vẫn hô hào năm này sang năm khác về con đường XHCN, học tập tấm gương của ai đó, về dân chủ tự do, về chí công vô tư, về chống tham nhũng, v.v. Lãnh đạo cứ nói, người dân vẫn không tin vì họ cho rằng “nói vậy mà không phải vậy”. Thậm chí, người dân cũng không chắc các vị ấy tin vào những gì họ nói, vậy thì tại sao mình phải tin. Người cầm quyền thừa biết rằng người dân đang rất khổ và bất bình, nhưng họ cứ lờ đi và phải nói những gì họ phải nói. Thế là hai bên lệch pha, chẳng ai tin ai. Trong một xã hội như thế thì quả là nguy hiểm. Chính quyền cứ nói, nền kinh tế vận hành theo hướng của nó.
Có lẽ Việt Nam sẽ chẳng đi về đâu, mà vẫn bồng bềnh trong tình trạng hiện nay. Bây giờ thì chắc nhiều người đã nhận ra một điều hiển nhiên từ lâu: Việt Nam không có cải cách thật sự, không có “đổi mới” thật sự. Tất cả thiết chế chính trị của chế độ vẫn như xưa, không có gì thay đổi. Ngôn ngữ của lãnh đạo vẫn như thời bao cấp, có khác chăng là có màu mè hơn một chút. Có thể có vài thay đổi bề ngoài, nhưng bên trong thì vẫn y chang từ thời bao cấp. Họ vẫn “nói vậy mà không phải vậy”, đến nỗi Thủ tướng Đài Loan nói thẳng rằng “Chính phủ Việt Nam thiếu thành thật”. Để người ta nói như thế vào mặt thì còn mặt mũi nào mà nhìn thế giới. Có lẽ Việt Nam không có khả năng tự đổi mới, nên đất nước sẽ chẳng đi về đâu cả, và khoảng cách giữa Việt Nam và các nước trong vùng càng ngày càng xa hơn.
FB Nguyen Tuan

PHẬT GIÁO TÂY TẠNG DƯỚI CHÍNH SÁCH CAI TRỊ TÀN ÁC CỦA TRUNG CỘNG

Phật Giáo Tây Tạng Dưới Chính Sách Cai Trị Tàn Ác Của Trung Cộng - Hòa Thượng Thích Trí Chơn

Phật Giáo Tây Tạng Dưới Chính Sách Cai Trị Tàn Ác Của Trung Cộng - Hòa Thượng Thích Trí Chơn

PHẬT GIÁO TÂY TẠNG DƯỚI CHÍNH SÁCH CAI TRỊ TÀN ÁC CỦA TRUNG CỘNG
Hòa Thượng Thích Trí Chơn

Chúng tôi xin lược tóm trình bày, qua sự tường thuật của các báo chí Tây phươngtrong nhiều năm qua, để quý độc giả Phật tử xa gần biết rõ về các biến cố “Pháp nạn” xảy ra tại nước Phật giáo Tây Tạng hơn 50 năm trước dưới chế độ cai trị tàn bạo của chính quyền Trung Cộng.
 Vài nét về nền Phật giáo Tây Tạng
 tibet-mapTây Tạng, từ Anh ngữ gọi là “Tibet”, tiếng Trung Hoa “Tufan”, Mông Cổ “Thubet”, Thái Lan “Thibet” và Ả Rập “Tubbat” v.v… Trong các thi phẩm cổ văn của Tây Tạng, quốc gia này thường có tên gọi “Khawachen”, có nghĩa là “Xứ Tuyết” (The Abode of Snow) hay “Sildanjong”, có nghĩa là “Vùng đất khí hậu lạnh” (The Cool Climate Land).
 Từ lâu, Tây Tạng được thế giới xem như một quốc giaxa xôi ở Trung Á, ít người lui tới vì quanh năm xứ này được bao bọc bởi các núi tuyết. Tây Tạng có diện tích rộng khoảng 471.660 dặm vuông nằm ở vị trí cao nhất (16.000 feet) phía bắc núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalaya) mà thường Tây phương thường gọi “The Roof or Top of the World” (Mái nhà hoặc đỉnh cao của Thế giới), phía tây giáp miền bắc Ấn Độ; đông và bắc giáp Trung Quốc; nam giáp các vương quốc Nepal, Bhutan, bắc Miến Điện và đông bắc Ấn Độ. Thủ đô: Lhasa (Lạp Tát) với dân số 40.000 trên tổng số dân Tây Tạng là 6 triệu, trong đó có khoảng 18 phần trăm nhà Sư và hai phần trăm là Ni cô (theo tài liệu của Sử gia Tây TạngT.W.D.Shakabpa). Ngoài ra, còn có khoảng 1,5 triệu dân Tây Tạng đang sống tỵ nạn tại nhiều quốc gia khắp nơi trên thế giới.
 Thời xa xưa, trước khi tiếp xúc với Phật giáo, dân chúng Tây Tạng phần đông theo đạo cổ truyền gọi là “Bon” tin vào ma quỷ, thần linh. Khi bị ma quỷ quấy phá, họ phải nhờ các thầy pháp, phù thủy cúng vái mới được yên. Sau đó, Phật giáo từ Ấn Độ bắt đầu du nhập Tây Tạng vào khoảng tiền bán thế kỷ thứ bảy dưới triều vua Songtsen Gampo (605-650). Theo truyền thuyết, người ta tin rằng nhà vua là hóa thân của đức Quan Thế Âm Bồ Tát và là vị vua ủng hộ Phật giáo đầu tiên ở Tây Tạng. Nhà vua đặt ra 16 điều răn đạo đức khuyên dân chúng thực hành theo, đã kiến lập thủ đô Lhasa và xây dựng nhiều chùa khắp nơi trong nước.
 Phật giáo Tây Tạng có rất nhiều tông phái, nhưng chỉ có bốn phái sau đây là chính yếu: 1) Nyingma (Ninh Mã), 2) Kagyu (Cát Cử), 3) Sakya (Tát Ca) và 4) Geluk (Cách Lỗ). Các học giả Tây phương thường gọi ba phái đầu là “Mũ Đỏ” (Red Hat) và phái thứ tư Geluk là “Mũ Vàng” (Yellow Hat). Học giả Tây Tạng lại thích dùng từ “Cựu phái” chỉ cho mũ đỏ và “Tân phái” cho mũ vàng. Trong bốn phái trên, phái có ảnh hưởng mạnh nhất là Geluk hay “ Đạo Đức phái” (The Virtuous Order) nhờ vào sự cải cách truyền bávà phát triển của ngài Tsong Khapa –Tông Khách Ba (1357-1419). Xuất gia lúc 7 tuổi và sau khi học xong giáo lý căn bản tại quê nhà, năm 16 tuổi Ngài được gửi lên tiếp tục học chương trình Cao học Phật giáo tại các Phật Học Viện ở miền Trung Tây Tạng. Ngài chủ trương chư Tăng tuyệt đối không được lập gia đình (khác với phái Sakya, nhà sư có thể lấy vợ). Lúc ấy, được nhiều người ủng hộ, Ngài đứng ra lập chùa Ganden (Cách Đăng), cách 40 cây số về hướng đông thủ đô Lhasa để làm cơ sở truyền bá giáo lý của phái Geluk (Cách Lỗ) hay Mũ Vàng.
 Ảnh hưởng của phái này về sau rất mạnh, không những chỉ trong đời sống tôn giáo, văn hóa, xã hội của dân chúng mà cả đến chính trị trong triều đình vua chúa Tây Tạngbấy giờ. Năm 1438, Gendun Drub là cháu và đệ tử chính của ngài Tsong Khapa (Tông Khách Ba) nhận giữ chức trụ trì chùa Ganden. Do lời tiên đoán của Lạt Ma Tsong Khapa, ngài Gendun Drub (1391-1474) được xác nhận như vị hóa thân của đức Bồ tát Quán Thế Âm và do đó trở thành đức Đạt Lai Lạt Ma đầu tiên lãnh đạo giáo phái Geluk (Cách Lỗ) kiêm giữ chức vụ nguyên thủ điều hành quốc gia. Dalai (Đạt Lai) là tiếng Mông Cổ dịch từ chữ “Gyatso” của Tây Tạng, có nghĩa là “Đại Dương” (Ocean), còn Lama (Lạt Ma) là “Trí Tuệ” (Wisdom). Vậy “Dalai Lama” có nghĩa là “Biển Trí Tuệ”.
 Theo truyền thống kế thừa của dòng phái Đạt Lai Lạt Ma thì sau khi đức Đạt Lai Lạt Ma trước viên tịch, Giáo Hội không chọn lựa bổ nhiệm một vị Lạt Ma tài đức khác lên thay thế mà hàng tăng đồ, đệ tử trong môn phái và chính quyền phải lặn lội đi tìm khắp nơi trong nước một bé trai ở một gia đình nào mà qua nhiều lần thí nghiệm biết chắc rằng em đó đúng là vị đầu thai, tái sanh của đức Đạt Lai Lạt Ma đã mất thì em sẽ được Giáo Hội rước đưa về Lhasa chăm sóc dạy dỗ cả đời lẫn đạo để sau này tấn phong em lên nhận lãnh vai trò của đức Đạt Lai Lạt Ma kế tiếp. Truyền thống lãnh đạo của các vị Đạt Lai Lạt Ma và quyền lực chính trị của giáo phái Phật giáo Geluk hay Mũ Vàng này vẫn được duy trì tồn tại hơn 500 năm qua tại xứ Tây Tạng cho đến năm 1959. Ngài Đạt Lai Lạt Ma hiện nay mà chúng ta gọi “Đức Phật sống” là vị thứ 14. Tên Ngài là Tenzin Gyatso sanh ngày 06-06-1935 tại làng Taktser, quận Dokham, miền đông bắc Tây Tạng. Năm 1940, chưa đầy năm tuổi, Ngài chính thức được chính phủ Tây Tạng suy tôn lên ngôi vị Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 và nắm quyền lãnh đạo quốc giatrong một buổi lễ vô cùng trang nghiêm tổ chức ở cung điện Potala tại thủ đô Lhasa.
 Trung Cộng xâm lăng đánh chiếm Tây Tạng
 dalailama-timeTrước kia mặc dù Trung Quốc vẫn thường tuyên bố rằng Tây Tạng là một phần đất của họ, nhưng chưa thực sự xua quân đánh chiếm xứ này. Ngày 07-10-1950, quân đội Trung Cộng bắt đầu mở cuộc tấn công sáu mặt vào lãnh thổ Tây Tạng, lúc ấy đức Đạt Lai Lạt Ma mới có 15 tuổi. Ngày 07-11-1950, Ngài gửi thư nhờ Liên Hiệp Quốc can thiệp giúp đỡ, nhưng vì Tây Tạng bấy giờ không có chân trong tổ chức này nên lời yêu cầu của Ngài không được đáp ứng. Cùng lúc, đức Đạt Lai Lạt Ma cũng gửi công hàm cho chính quyền Trung Quốc nhắc lại tình hữu nghị xưa nay giữa hai nước và yêu cầu họ rút quân khỏi Tây Tạng cũng như giao trả các tù binh Tây Tạng bị bắt. Nhưng chính phủ Trung Quốc làm ngơ. Sau đó, vì nhận thấykhông đủ sức đương đầu với Trung Cộng về mặt quân sự, nên chính phủ Tây Tạngbuộc lòng phải gửi phái đoàn sang Bắc Kinh nghị hòa ký hiệp ước gồm 17 điều vào ngày 23-05-1951.
Tuy nhiên, nhà cầm quyền Trung Quốc vẫn không giữ đúng hoàn toàn tất cả những điều cam kết đã ký. Hè năm 1951, khoảng 6.000 quân Trung Cộng tiến vào chiếm thủ đô Lhasa. Cuối năm 1955, tình hình lại càng tồi tệ hơn. Hè năm 1956, đức Đạt Lai Lạt Ma được Hội Ma Ha Bồ Đề (Maha Bodhi Society) mời qua dự lễ Phật Đản năm 2500 tại Ấn Độ. Trong lúc Ngài vắng mặt, nhiều cuộc xung đột đã xảy ra giữa quân đội Trung Quốc và Tây Tạng. Cuối năm 1956, dân chúng Tây Tạng bắt đầu ồ ạt bỏ nước ra đi tỵ nạn. Đầu năm 1957, quân đội giải phóng Tây Tạng chiến đấu anh dũng đã lấy lại được một số cứ điểm do Trung Cộng chiếm đóng trước kia, mặc dù lúc ấy quân Trung Cộng có đến 40.000 so với Tây Tạng vào khoảng 6.000.
 Sau khi từ Ấn Độ về đến Lhasa, đức Đạt Lai Lạt Ma đau buồn nghe tin quân đội Trung Cộng đã pháo kích, ném bom, phá hủy các làng mạc, chùa chiền khắp nơi. Nhiều dân lành Tây Tạng bị tra tấn, sát hại. Những nông dân nào tỏ ý chống đối chính quyền Trung Quốc, con gái của họ từ 13 đến 20 tuổi bị cưỡng bức lõa thể đi diễn hành ngoài đường phố, trong khi lính Trung Cộng đứng nhìn, và có những hành động đồi bại vừa la hò thích thú. Nhiều Ni cô Tây Tạng bị lính Trung Cộng hãm hiếp tập thể hoặc có trường hợp bộ đội Trung Quốc dùng súng, lưỡi lê cưỡng bức các nhà Sư và Ni cô lấy nhau trước mặt họ. Nạn nhân đôi khi bị tra tấn bằng cách lột da sống. Chồng bị tàn sát trước mặt vợ; các phụ nữ và con gái bị cưỡng hiếp và bắn chết trước sự chứng kiếncủa thân nhân. Trẻ con Tây Tạng bị bắt buộc cầm súng bắn giết cha mẹ v.v… Theo bản báo cáo của một Ủy Ban Điều Tra tại Quốc Hội Hoa Kỳ về các nạn nhân bị sát hạidưới chế độ Cộng Sản tại Trung Quốc (gồm cả Tây Tạng) trong thời gian những năm 1949-1971 là vào khoảng từ 32 đến 63 triệu người.
 Đức Đạt Lai Lạt Ma bỏ nước ra đi
 Cuối năm 1958, dân chúng Tây Tạng nổi dậy chống Trung Quốc khắp nơi. Ngày 10-03-1959, ngay tại thủ đô Lhasa, quần chúng cũng vùng lên chống đối Trung Cộng. Giữa lúc tình hình khẩn trương, ngày 16-03-1959 đức Đạt Lai Lạt Ma được tin quân đội Trung Cộng đang chuẩn bị pháo kích cung điện Potala ở Lhasa, Ngài khẩn cấp chohọp Hội Đồng Nội Các. Ngài không sợ chết, nhưng nhận thức rằng chính phủ và nhân dân Tây Tạng muốn Ngài phải sống, dù bất cứ ở đâu, để tiếp tục lãnh đạo cuộc tranh đấu giải phóng đất nước. Cuối cùng, vì tiền đồ của dân tộc và đạo pháp, Ngài đã quyết định cùng với một số thân quyến và các vị bộ trưởng trong chính phủ rời khỏi Tây Tạng ngay trong đêm ấy.
dalailamaindia
Hình trên: An unusual photograph depicting the 14th Dalai Lama walking through the mountains in his flight from Tibet in 1959. Seen on the left, wearing his distinctive spectacles, he is joined by his brother and countless followers, his bodyguards consisting of Khampas who comprise the warrior class in Tibet. (http://www.tcoletribalrugs.com/resources/photos-old/tibet-pics-html/DalaiLama.html)
Sau bao ngày dùng ngựa và đi bộ cực nhọc, vượt suối băng đèo, đức Đạt Lai Lạt Mađã an toàn tới được thị trấn Mussoorie dưới chân núi Hy Mã Lạp Sơn, phía bắc New Delhi, thủ đô của Ấn Độ. Cố thủ tướng Ấn Độ, ông Nehru (1889-1964) lúc ấy hay tinliền đến thăm Ngài. Hiện nay, đức Đạt Lai Lạt Ma đang sống với chính phủ lưu vongcủa Ngài tại thị trấn Dharamsala, quận Kangra, tiểu bang Himachal Pradesh, miền bắc Ấn Độ. Ngoài ra, tại các tiểu bang khác trên toàn Ấn Độ hiện có khoảng 50.000 dân tỵ nạn Tây Tạng đang sinh sống. Từ ngày đức Đạt Lai Lạt Ma bỏ nước ra đi, Tây Tạnghoàn toàn bị Trung Cộng chiếm đóng cai trị. Những năm gần đây, nhà cầm quyền Trung Quốc nhiều lần ngỏ ý mời đức Đạt Lai Lạt Ma trở về nước, nhưng Ngài đã từ chối vì tự thấy rất khó có thể tin tưởng vào thiện chí của những người Cộng Sản.
dalailamaindia-2
The Dalai Lama escorted by Tibetan resistance fighters -- 
leaving Tibet to seek asylum in India (March 1959)
Chủ trương đàn áp tiêu diệt Phật giáo Tây Tạng của Trung Cộng
 Theo tài liệu của ký giả John Avedon viết trong tờ Washington Post mà tạp chí Golden Drum (No. 8, Feb.–Apr.1988, London) trích đăng lại và bài viết “Tibet and Chinese: A Viewpoint” của John Mc Clelian đăng ở tạp chí “The Vajradhatu Sun” (Vol.9, No.2, Dec.87 – Jan.88) cho biết kể từ năm 1950 Trung Cộng xâm lăng Tây Tạng đến nay đã có 1,5 triệu (khoảng 1 phần 5 dân số) chư Tăng Ni và dân chúng Tây Tạng bị sát hại; 6.500 ngôi chùa bị phá hủy cùng nhiều kim loại quý và tác phẩm mỹ thuật Phật giáo trị giá khoảng 80 tỷ Mỹ kim đã bị nhà cầm quyền Trung Quốc tước đoạt. Trung Cộng hiện có 350.000 quân đóng ở Tây Tạng để kiểm soát 84 nhà tù đang còn giam giữ từ 20.000 đến 100.000 người, phần đông ở trại tập trung khổng lồ lớn nhất thế giới “Amdo Gulag”, miền đông bắc Tây Tạng. Những người bị giam ở đây phần lớn vì tội chống chính phủ, trong đó có Lạt Ma Geshe Lobsang Wangchuk, một Triết gia và Sử gia nổi tiếng Tây Tạng mà Hội Ân Xá Quốc Tế đã từng lên tiếng can thiệp (có tin Ngài đã chết trong tù ngày 04-11-1987).
 Ngoài việc chiếm đóng quân sự, hiện nay chính sách của Trung Cộng là muốn đồng hóa và làm suy yếu dân tộc Tây Tạng. Chính phủ đã khuyến khích 7,5 triệu dân Trung Quốc qua định cư sinh sống ở Tây Tạng. Mặc dù nhà cầm quyền Trung Cộng hứa hẹn giúp đỡ dân chúng Tây Tạng có công ăn việc làm và giáo dục cho trẻ em, nhưng theo tài liệu của Quốc Hội Hoa Kỳ cho thấy chính quyền Trung Quốc muốn kiềm hãm người dân Tây Tạng trong tình trạng lạc hậu và dốt nát. Cũng có tin nói rằng hàng ngàn phụ nữ Tây Tạng đã bị cưỡng bức phá thai, chẳng hạn John Avedon viết “Tại Lhasa nhiều phụ nữ Tây Tạng vừa sinh xong, nghe tiếng em bé khóc thì liền sau đó, họ được báo cho biết là đứa trẻ đã chết”.
 Ký giả Jack Anderson trên báo Washington Post (ngày 28-03-1988) đã viết: “Tây Tạng từ 38 năm qua dưới chính sách cai trị độc tài của Trung Cộng đã hoàn toàn bị cô lập, cắt đứt liên lạc với thế giới bên ngoài, nhưng mấy năm gần đây, nhằm thu hoạch ngoại tệ của khách du lịch, nhà cầm quyền Trung Quốc đã cho phép nhiều du khách đến viếng xứ này. Tháng 10 năm 1987, sau biến cố dân chúng Tây Tạng nổi lên biểu tìnhchống chính phủ, Tây Tạng lại bị đóng cửa trở lại. Chính quyền Trung Cộng đã ngăn cấm không cho du khách và ký giả Tây phương đến viếng Lhasa. Nhiều dân tỵ nạn Tây Tạng trốn ra được nước ngoài cho biết, nhà cầm quyền Trung Quốc vẫn tiếp tụcbắt bớ, tra tấn, đàn áp, sát hại những phần tử chống đối… Chỉ hai ngày sau khi đức Đạt Lai Lạt Ma đến viếng thăm Hoa Kỳ đưa ra kế hoạch hòa bình giữa dân chúng Tây Tạng ủng hộ ông và chính quyền Trung Quốc, ngày 24-09-1987, quân đội và cảnh sát Trung Cộng đã tập trung bao vây 15.000 dân chúng Tây Tạng tại một sân vận động ở Lhasa để buộc họ chứng kiến lính Trung Cộng hành quyết hai người Tây Tạng theo quốc gia”.
 Theo bản báo cáo “Asia Watch” dày 74 trang được phổ biến tại Washington D.C. ngày 11-02-1988 của tổ chức Nhân Quyền “Human Rights Watch” cho biết các nhà chính trị tích cực bị chính quyền Trung Cộng bắt giam tại Tây Tạng phần đông họ là những phần tử dám phát biểu công khai chống đối sự cai trị và chính sách của Trung Quốchoặc ủng hộ đường lối chính trị của đức Đạt Lai Lạt Ma và nền độc lập của Tây Tạng. Những cuộc bắt bớ thường xảy ra ban đêm và thân nhân gia đình không được thông báo trước. Người bị bắt không được đưa ra tòa xét xử mà thường trong khi lấy khẩu cung họ bị cưỡng bức ký vào những tờ giấy nhận tội đã làm sẵn. Lúc xét hỏi, họ thường bị tra tấn. Theo lời tường thuật của một người Tây Tạng tỵ nạn được Asia Watch phỏng vấn cho biết: Nếu ai can đảm dám phát biểu Tây Tạng là một quốc giađộc lập, chân tay họ liền bị xích lại và tra điện. Toàn thân nạn nhân run lên và không thể mở miệng nói gì hết.
 Tháng 01 năm 1988, hai nhân viên của Quốc Hội Hoa Kỳ, ông Paul H.Berkowitz và Keith J.Pitts phỏng vấn nhiều dân tỵ nạn Tây Tạng ở Nepal được họ kể cho biết rằng sau cuộc biểu tình chống Trung Quốc của dân chúng xảy ra ngày 01-10-1987, hiện nay tại Lhasa, nhà cầm quyền Trung Cộng vẫn tiếp tục đàn áp, bắt bớ, tra tấn, tù đày, tẩy não, bắn giết nhân dân Tây Tạng. Tờ Washington Post số ra ngày 29-01-1988 tường thuật là: “Một phụ nữ Tây Tạng đã bị công an Trung Cộng dùng điện tra tấn nơi chỗ kín. Người Trung Quốc đối xử với dân Tây Tạng như loài chó. Đó là nguyên nhânxảy ra các cuộc nổi dậy bạo động chống đối Trung Cộng của dân chúng Tây Tạng. Các nhà Sư bị cảnh sát đánh bằng xẻng và cuốc”.
 Khi ở Nepal, ông Pitts cũng được dân tỵ nạn Tây Tạng cho biết nhân viên chính quyền Trung Cộng hứa sẽ thưởng 100 mỹ kim cho bất cứ lính biên phòng Nepal nào bắt được một người Tây Tạng vượt biên trốn đi giao lại cho họ. Hãng thông tấn Associated Press ngày 25-01-1988 tường thuật hơn 5.000 dân chúng Tây Tạng đã bị bắt sau cuộc biểu tình chống chính phủ xảy ra ngày 01-10-1987, nửa trong số đó là phụ nữ và trẻ em. Họ bị giam trong các nhà tù với hoàn cảnh sinh sống thật hết sức tồi tệ chưa từng thấy, thường xuyên bị lấy khẩu cung, tra tấn và bỏ đói.
 Mặc dù bạo quyền Trung Cộng tìm mọi cách đàn áp khủng bố tinh thần dân chúng, họ vẫn không ngăn chặn được các cuộc biểu tình chống đối tiếp tục nổ ra. Cuối tháng 11 năm 1987, chư Tăng chùa Ganden (Cách Đăng), cách thủ đô Lhasa 40 cây số về hướng đông, đã phản đối sự hiện diện của quân đội Trung Quốc tại chùa họ. Một xe cảnh sát bị các nhà Sư đốt cháy và 80 vị Lạt Ma đã bị bắt. Cuộc biểu tình thứ hai xảy ra vào ngày 19-02-1987 khi 20 Ni cô Tây Tạng diễn hành quanh chùa Jokhang ở Lhasa và hô khẩu hiệu đả đảo quân đội Trung Cộng chiếm đóng Tây Tạng. Tất cả sau đó đều bị bắt.
 Để chống lại những người biểu tình, chính quyền Trung Cộng cho thành lập nhiều ủy ban tuyên truyền mà mục đích chính của họ là tổ chức các buổi học tập. Tại các lớp học này, người dân Tây Tạng bị cưỡng bức lên án các cuộc biểu tình đã xảy ra, kết tội những ai có ý tưởng muốn Tây Tạng độc lập hoặc ủng hộ đức Đạt Lai Lạt Ma lưu vong. Họ cũng bị bắt buộc bày tỏ ý muốn thấy Tây Tạng được sát nhập và thống nhất vào Trung Quốc v.v… Cũng theo bản báo cáo Asia Watch, hiện nay tại Tây Tạng nhà cầm quyền Trung Quốc giới hạn tối đa mọi công tác sửa chữa, trùng tu chùa chiền, kiểm soát tất cả như tài sản, tiền bạc của các tu viện, và ngăn cấm sự thuyết giảngtruyền bá Phật pháp trong nước cũng như nỗ lực tách rời việc giáo dục Phật giáo ra khỏi ảnh hưởng của các chùa v.v… Chính quyền Trung Cộng còn cấm đoán người dân không được lưu giữ lá cờ quốc gia của Tây Tạng trước kia cũng như bất cứ tài liệu, vật dụng gì có liên quan đến những người Tây Tạng hiện đang sống tỵ nạn ở Ấn Độ.
Đại lễ cầu nguyện tại chùa Jokhang ở Lhasa biến thành biểu tình chống đối Trung Cộng xâm lăng Tây Tạng
 Một tuần trước khi xảy ra biến cố này, tình hình thủ đô Lhasa thật khẩn trương. Đài BBC ngày 28-02-1988 loan tin: “Hàng ngàn lực lượng an ninh và cảnh sát Trung Cộng được lệnh di chuyển vào Lhasa – các đường chính dẫn đến thủ đô đều bị phong tỏa. Nhiều đoàn xe bọc sắt đi tuần tiểu ngoài đường phố vào ban đêm và dân chúng được loan báo trên loa phóng thanh là nên ở trong nhà. Quân đội cũng cảnh cáo – Nếu ai bất tuân sẽ bị bắn ngay tại chỗ”. Hãng thông tấn Reuters đánh đi từ Bắc Kinh cho biếtmột tuần trước Đại Lễ Cầu Nguyện Monlam Chenmo, hàng ngàn cảnh sát Trung Cộng đội nón sắt, tay cầm dùi cui với 50 xe quân sự hướng dẫn cuộc tập dượt tuần hành xung quanh chùa Jokhang, nơi đại lễ nói trên sẽ được tổ chức. Các ký giả Tây phươngở Bắc Kinh bị nhà cầm quyền Trung Quốc từ chối, không cấp giấy phép đến thăm Lhasa. Ngoại trừ chỉ có thông tín viên đài BBC Tim Luard và ký giả hãng thông tấn Pháp Kathy Wilhelm được phép gia nhập cùng đi với một nhóm du khách đến Lhasa để dự xem lễ Monlam Chenmo.
 Khoảng 30 du khách ngoại quốc ở Lhasa nói rằng tình hình tại thủ đô hết sức căng thẳng và cảnh sát đã xét hỏi giấy thông hành của họ. Du khách được chính quyền cảnh cáo là không nên đến viếng các chùa và đừng tham dự vào bất cứ cuộc biểu tìnhnào chống chính phủ của dân chúng. Mặc dù nhà cầm quyền Trung Cộng đã chuẩn bị đối phó ngăn chặn các cuộc biểu tình xảy ra, nhưng vẫn thất bại. Theo tin tức đăng ở tờ New York Times số ra ngày 17-03-1988 cho biết hơn 5.000 dân chúng Tây Tạng đã tổ chức biểu tình tại Lhasa ngày 05-03-1988 và họ yêu cầu Trung Quốc trao trả độc lậpcho Tây Tạng.
 Nguyên do phát xuất cuộc biểu tình trên là nhân dịp lễ bế mạc 10 ngày Đại Hội Cầu Nguyện Monlam Chenmo tại chùa Jokhang ở Lhasa, một nhà sư bị bắt vì đã đứng lên hô hào đòi quyền độc lập cho Tây Tạng. Bạo động xảy ra sau khi 2.000 cảnh sát võ trang và bán quân sự Trung Cộng tấn công chùa Jokhang. Cảnh sát dùng lựu đạn cay đàn áp và 100 vị Lạt Ma đã bị bắt. Một nhà sư 15 tuổi và ba thường dân đã bị cảnh sát bắn chết. Về phía cảnh sát có ba tên bỏ mạng theo tin của hãng thông tấn Pháp. Sau đó, dân chúng tức giận tấn công một bót cảnh sát và một văn phòng của Hội Phật Giáo Tây Tạng do nhân viên chính quyền Trung Cộng kiểm soát. Một du khách Hoa Kỳ, ông Benjamin Watson tường thuật rằng có 16 nhà sư Tây Tạng đã bị sát hại trong cuộc xung đột. Vài vị đã do cảnh sát bắn chết, có người bị ném từ trên tầng lầu cao xuống đất. Theo tin của tờ Newsweek ấn hành ngày 21-03-1988 tường thuật rằng: “Một du khách Nhật đã chứng kiến năm cảnh sát đánh vỡ đầu một nhà sư bằng gậy”.
 Báo The Wall Street Journal ngày 11-03-1988 đã cho biết “ít nhất có 600 người đã bị bắt sau khi xảy ra cuộc đụng độ hôm thứ bảy 05-03-1988 giữa cảnh sát và những người ủng hộ quyền độc lập của Tây Tạng”. Ngày 11-03-1988 nhà cầm quyền Trung Cộng đã cảnh cáo các phần tử Tây Tạng chống đối chính phủ phải ra trình diện vào ngày 20-03-1988, nếu không sẽ bị trừng phạt nặng. Chính quyền Trung Quốc đã đàn áp thẳng tay nhân dân Tây Tạng. Lực lượng an ninh võ trang đã bố ráp từng nhà để bắt những người bị tình nghi là theo chủ trương ly khai. Tuy nhiên, tình hình bất ổn ở thủ đô Lhasa vẫn lan tràn đến các nơi khác. Báo Ottawa Citizen tường thuật cho biết là ngày 11-03-1988 có nhiều vị Lạt Ma và các em học sinh trung học ở tỉnh Amdo, phía đông bắc Tây Tạng đã nổi dậy đòi nhà cầm quyền Trung Cộng trao trả độc lập cho quốc gia họ. Họ cũng phản đối chương trình kế hoạch hóa gia đình và hành động cưỡng bức phụ nữ Tây Tạng phá thai của chính quyền.
 Cuộc biểu tình lớn ngày 05-03-1988 tại thủ đô Lhasa xảy ra trùng hợp với chuyến sang thăm chính thức Hoa Kỳ của ông Wu Xuequian, bộ trưởng ngoại giao Trung Cộng. Trước đó, ông ta tuyên bố muốn gặp thảo luận với các dân biểu Quốc Hội Hoa Kỳ bất cứ vấn đề gì, kể cả Tây Tạng. Tuy nhiên, sau biến cố ngày 05-03-1988, ông Wu đã hủy bỏ cuộc gặp gỡ dự trù sẽ diễn ra vào ngày 08-03-1988 với các nhân vật trong Ủy Ban Ngoại Giao của chính phủ Mỹ. Tòa đại sứ của Trung Cộng ở Hoa Thịnh Đốn cũng không đưa ra lời giải thích nào về việc hủy bỏ đó. Ngày 07-03-1988, đức Đạt Lai Lạt Ma đã gửi một văn thư cho tổng thống Reagan và yêu cầu ông lên tiếng về tình hình ở Tây Tạng, nhưng không thấy tổng thống Reagan nói gì. Tuy nhiên, theo tin từ tòa Bạch Ốc, ông Schultz, bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ, trong cuộc gặp gỡ với ông Wu, có đề cập đến vấn đề Tây Tạng.
 Thái độ của chính phủ Hoa Kỳ trước hành động vi phạm nhân quyền của nhà cầm quyền Trung Cộng ở Tây Tạng
 Ngày 18-06-1987, hạ viện Mỹ đã thông qua một nghị quyết lên án hành động vi phạmnhân quyền của chính quyền Trung Quốc ở Tây Tạng và một dự luật tương tự cũng được thông qua tại thượng viện ngày 09-10-1987.
 Ngày 21-09-1987, đức Đạt Lai Lạt Ma, lãnh đạo chính phủ lưu vong Tây Tạng ở Dharamsala (Ấn Độ) đưa ra kế hoạch 5 điểm nhằm giải quyết vấn đề Tây Tạng:
 1) Biến Tây Tạng thành một khu vực hòa bình. Tây Tạng cần được duy trì như một quốc gia Phật giáo hòa bình và trung lập.
 2) Chấm dứt sự di dân Trung Quốc ồ ạt vào Tây Tạng.
 3) Tôn trọng quyền tự do dân chủ và nhân quyền căn bản của nhân dân Tây Tạng.
 4) Duy trì và bảo vệ môi trường sinh sống thiên nhiên ở Tây Tạng, kể cả việc chấm dứt sản xuất vũ khí nguyên tử và vứt bỏ những cặn bã của vật dụng nguyên tử vào lãnh thổ Tây Tạng.
 5) Khởi đầu các cuộc thương thuyết về địa vị tương lai của Tây Tạng cùng sự quan hệ giữa nhân dân Trung Quốc và Tây Tạng.
 Trong văn thư gửi cho thủ tướng Trung Cộng, các dân biểu của thượng và hạ viện Quốc Hội Hoa Kỳ, kể cả ông Claiborne Pell, chủ tịch ủy ban liên lạc ngoại giao hạ viện và Dante Fascell, chủ tịch ủy ban ngoại giao thượng viện Hoa Kỳ, đã ủng hộ đề nghị năm điểm của đức Đạt Lai Lạt Ma, xem đó như là “một bước tiến lịch sử nhằm giải quyết thỏa đáng vấn đề thiết yếu của Tây Tạng cùng làm giảm bớt sự đau khổ cho nhân dân Tây Tạng”.
 Về phía Trung Quốc, trong bài Xã Thuyết đăng ở tờ nhân dân nhật báo số ra ngày 07-10-1987, chính quyền Trung Cộng đã lên án đề nghị năm điểm của đức Đạt Lai Lạt Ma, xem đó như là mục đích nhằm phục hồi nền độc lập của Tây Tạng, chia cắt đất nước, phá hoại tinh thần đoàn kết giữa các chủng tộc và vi phạm đến sự toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc. Trung Cộng cũng trách cứ nói rằng, chính đức Đạt Lai Lạt Maphải chịu trách nhiệm về những xáo trộn xảy ra gần đây ở Lhasa. Trong một thông cáo phổ biến ở Bắc Kinh, nhà cầm quyền Trung Cộng tuyên bố rằng vấn đề Tây Tạng là hoàn toàn thuộc nội bộ của Trung Quốc. Chính quyền đã từ chối việc cho phép một phái đoàn điều tra của Quốc Hội Hoa Kỳ sang Tây Tạng để quan sát về tình trạng vi phạm nhân quyền tại đây. Ngày 18-10-1987, Đặng Tiểu Bình tình, nhân vật lãnh đạocao cấp của Trung Quốc ra thông báo nói rằng “vấn đề liên quan đến Tây Tạng là công việc nội bộ của Trung Quốc, Quốc Hội Hoa Kỳ không có quyền can dự vào”.
 Ngày 03-10-1987, tại Dharamsala (Ấn Độ) đức Đạt Lai Lạt Ma đã lên tiếng: “Tôi rất đau buồn và xót thương cho các Tăng Ni cũng như Phật tử đã bỏ mình và bị thươngtrong những cuộc biểu tình chống chính phủ Trung Cộng gần đây ở Tây Tạng. Tôi tin rằng bạo lực không phải là phương pháp để giải quyết vấn đề. Tôi kêu gọi các tổ chức nhân quyền cùng những người ủng hộ sự tự do và công bằng trên thế giới hãy thuyết phục nhà cầm quyền Trung Quốc nên chấm dứt hành động tàn sát những dân lành vô tội và phóng thích các tù nhân đang bị giam giữ ở Tây Tạng”. Ngày 08-10-1987, hãng thông tấn Associated Press trích dẫn lời đức Đạt Lai Lạt Ma phát biểu: “Tôi không thể làm nản lòng ý chí quyết định về nền độc lập của nhân dân Tây Tạng, nhưng tôi cũng không muốn chấm dứt mối quan hệ trực tiếp giữa tôi với chính quyền Trung Cộng”.
 Trên đây, chúng tôi xin lược tóm trình bày đại cương qua sự tường thuật của các hãng thông tấn và báo chí Tây phương về những diễn biến “pháp nạn” đã xảy ra tại quốc gia Tây Tạng từ hơn 50 năm qua cũng như thời gian sau này, tháng 10 năm 1987 đến tháng 03 năm 1988 mà hàng triệu chư Tăng Ni, Phật tử và dân chúng Tây Tạng đã phải âm thầm hy sinh và chịu đựng dưới chế độ cai trị độc tài, tàn ác của chính quyền Trung Cộng hầu giúp quý độc giả Phật tử gần xa nhận thức và chia xẻphần nào nỗi khổ đau tủi nhục triền miên của những người con Phật nơi đất nước Tây Tạng.
 Chúng ta cầu nguyện cho nhân dân Tây Tạng chóng đạt được thành quả trong mục tiêu tranh đấu giành lại chủ quyền độc lập cho quốc gia để ánh đạo vàng của đức Thế Tôn có dịp được phát triển, và bành trướng mạnh mẽ như ngày nào hơn 50 năm trước dưới sự lãnh đạo tài đức của các vị Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng nơi vùng đất xa xôi quanh năm tuyết phủ này.
Tài liệu tham khảo :
1. Michael Buckley & Robert Strauss, Tibet - A Travel Survival Kit, Lonely Planet Publications, Victoria, Australia, 1986.
2. Dalai Lama, My Land and My People, Potala Publications, New York, 1985.
3. L.Austine Waddell, Tibetan Buddhism, With Its Mystic Cults, Symbolism and Mythology, Dover Publications, New York, 1972.
4. Roger Hicks & Ngakpa Chogyam, Great Ocean –An Authorised Biography The Dalai Lama, Elements Books Ltd., Longmead, England, 1984.
5. Các báo, tạp chí: - Golden Drum, No.8 February –April 1988, Windhorse Publications, Glasgow, Scotland.
 - Snow Lion Newsletter, Snow Lion Publications, Vol.3, No.1 New York, Spring 1988.
 - The Vajradhatu Sun, December 1987 –January 1988, Vol.9, No.2 & April –May 1988, Vol.10, No.4.
 - The Post Standard, 07-03-1988, Hongkong.
 - The Wall Street Journal, 11-03-1988.
 - The New York Times, 07 & 17-03-1988.
 - The Washington Post, 28-03-1988

Máu nhuộm đường "Tơ Lụa"
Một sự kiện gấy sốc toàn thế giới vào tháng 9 năm 2006, với đoạn film được ghi lại từ những nhà leo núi thế giới, khi đang thám hiểm ngọn Nangpa Pass thuộc rặng Hymalaya.
 
Đoàn người leo núi ghi lại những hình ảnh và film khi phát hiện đoàn người Tây Tạngđang trên đường vượt thoát khỏi Tây Tạng, bị lính biên phòng Trung Quốc dùng súng trường bắn chết họ. (Giống như hoàn cảnh Thuyền Nhân Việt Nam xưa kia tẩu thoát khỏi Việt Nam bằng thuyền hoặc bằng đường bộ)
Xem trong Video chúng ta thấy lính biên phòng Trung Cọng có súng trang bị hệ thốngnhắm từ xa bắn thẳng vào đoàn người Tây Tạng khiến cho đoàn thám hiểu leo núi người Tây phương vô cùng sửng sốt trước hành động vô nhân đạo này. Nhân chứng là cô thiếu nữ Kelsang Namtso thoát chết trên đường vượt thoát. Đoàn thám hiểm leo núi đã tiếp tay cứu giúp,và đưa đoạn film ghi được ra về New York và được truyền thông trên thế giới. . . Ngọn Nangpa Pass là trục được nối từ Tibel đến Nepal. Đây là con đường "Tơ Luạ" nổi tiếng từ xa xưa., (Được đặt tên: Máu nhuộm đường "Tơ Lụa")

Bộ phim gồm 6 tập và phần giới thiệu: 
Giới thiệu film: http://www.youtube.com/watch?v=LYN-mzRLABg&feature=player_embedded 
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=hrj9JOOvlos&feature=related 
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=XzbGw-WZcL8&NR=1
Phần 3: http://www.youtube.com/watch?v=xN7D-gzVQ4g&NR=1
Phần 4: http://www.youtube.com/watch?v=SsZ75DiaCxE&NR=1
Phần 5: http://www.youtube.com/watch?v=cVkeRa2H7T8&NR=1
Phần 6: http://www.youtube.com/watch?v=3syoU6GPyjY&NR=1

https://thuvienhoasen.org/a9807/phat-giao-tay-tang-duoi-chinh-sach-cai-tri-tan-ac-cua-trung-cong-hoa-thuong-thich-tri-chon