Thứ Năm, 21 tháng 12, 2017

PHẬT GIÁO TÂY TẠNG DƯỚI CHÍNH SÁCH CAI TRỊ TÀN ÁC CỦA TRUNG CỘNG

Phật Giáo Tây Tạng Dưới Chính Sách Cai Trị Tàn Ác Của Trung Cộng - Hòa Thượng Thích Trí Chơn

Phật Giáo Tây Tạng Dưới Chính Sách Cai Trị Tàn Ác Của Trung Cộng - Hòa Thượng Thích Trí Chơn

PHẬT GIÁO TÂY TẠNG DƯỚI CHÍNH SÁCH CAI TRỊ TÀN ÁC CỦA TRUNG CỘNG
Hòa Thượng Thích Trí Chơn

Chúng tôi xin lược tóm trình bày, qua sự tường thuật của các báo chí Tây phươngtrong nhiều năm qua, để quý độc giả Phật tử xa gần biết rõ về các biến cố “Pháp nạn” xảy ra tại nước Phật giáo Tây Tạng hơn 50 năm trước dưới chế độ cai trị tàn bạo của chính quyền Trung Cộng.
 Vài nét về nền Phật giáo Tây Tạng
 tibet-mapTây Tạng, từ Anh ngữ gọi là “Tibet”, tiếng Trung Hoa “Tufan”, Mông Cổ “Thubet”, Thái Lan “Thibet” và Ả Rập “Tubbat” v.v… Trong các thi phẩm cổ văn của Tây Tạng, quốc gia này thường có tên gọi “Khawachen”, có nghĩa là “Xứ Tuyết” (The Abode of Snow) hay “Sildanjong”, có nghĩa là “Vùng đất khí hậu lạnh” (The Cool Climate Land).
 Từ lâu, Tây Tạng được thế giới xem như một quốc giaxa xôi ở Trung Á, ít người lui tới vì quanh năm xứ này được bao bọc bởi các núi tuyết. Tây Tạng có diện tích rộng khoảng 471.660 dặm vuông nằm ở vị trí cao nhất (16.000 feet) phía bắc núi Hy Mã Lạp Sơn (Himalaya) mà thường Tây phương thường gọi “The Roof or Top of the World” (Mái nhà hoặc đỉnh cao của Thế giới), phía tây giáp miền bắc Ấn Độ; đông và bắc giáp Trung Quốc; nam giáp các vương quốc Nepal, Bhutan, bắc Miến Điện và đông bắc Ấn Độ. Thủ đô: Lhasa (Lạp Tát) với dân số 40.000 trên tổng số dân Tây Tạng là 6 triệu, trong đó có khoảng 18 phần trăm nhà Sư và hai phần trăm là Ni cô (theo tài liệu của Sử gia Tây TạngT.W.D.Shakabpa). Ngoài ra, còn có khoảng 1,5 triệu dân Tây Tạng đang sống tỵ nạn tại nhiều quốc gia khắp nơi trên thế giới.
 Thời xa xưa, trước khi tiếp xúc với Phật giáo, dân chúng Tây Tạng phần đông theo đạo cổ truyền gọi là “Bon” tin vào ma quỷ, thần linh. Khi bị ma quỷ quấy phá, họ phải nhờ các thầy pháp, phù thủy cúng vái mới được yên. Sau đó, Phật giáo từ Ấn Độ bắt đầu du nhập Tây Tạng vào khoảng tiền bán thế kỷ thứ bảy dưới triều vua Songtsen Gampo (605-650). Theo truyền thuyết, người ta tin rằng nhà vua là hóa thân của đức Quan Thế Âm Bồ Tát và là vị vua ủng hộ Phật giáo đầu tiên ở Tây Tạng. Nhà vua đặt ra 16 điều răn đạo đức khuyên dân chúng thực hành theo, đã kiến lập thủ đô Lhasa và xây dựng nhiều chùa khắp nơi trong nước.
 Phật giáo Tây Tạng có rất nhiều tông phái, nhưng chỉ có bốn phái sau đây là chính yếu: 1) Nyingma (Ninh Mã), 2) Kagyu (Cát Cử), 3) Sakya (Tát Ca) và 4) Geluk (Cách Lỗ). Các học giả Tây phương thường gọi ba phái đầu là “Mũ Đỏ” (Red Hat) và phái thứ tư Geluk là “Mũ Vàng” (Yellow Hat). Học giả Tây Tạng lại thích dùng từ “Cựu phái” chỉ cho mũ đỏ và “Tân phái” cho mũ vàng. Trong bốn phái trên, phái có ảnh hưởng mạnh nhất là Geluk hay “ Đạo Đức phái” (The Virtuous Order) nhờ vào sự cải cách truyền bávà phát triển của ngài Tsong Khapa –Tông Khách Ba (1357-1419). Xuất gia lúc 7 tuổi và sau khi học xong giáo lý căn bản tại quê nhà, năm 16 tuổi Ngài được gửi lên tiếp tục học chương trình Cao học Phật giáo tại các Phật Học Viện ở miền Trung Tây Tạng. Ngài chủ trương chư Tăng tuyệt đối không được lập gia đình (khác với phái Sakya, nhà sư có thể lấy vợ). Lúc ấy, được nhiều người ủng hộ, Ngài đứng ra lập chùa Ganden (Cách Đăng), cách 40 cây số về hướng đông thủ đô Lhasa để làm cơ sở truyền bá giáo lý của phái Geluk (Cách Lỗ) hay Mũ Vàng.
 Ảnh hưởng của phái này về sau rất mạnh, không những chỉ trong đời sống tôn giáo, văn hóa, xã hội của dân chúng mà cả đến chính trị trong triều đình vua chúa Tây Tạngbấy giờ. Năm 1438, Gendun Drub là cháu và đệ tử chính của ngài Tsong Khapa (Tông Khách Ba) nhận giữ chức trụ trì chùa Ganden. Do lời tiên đoán của Lạt Ma Tsong Khapa, ngài Gendun Drub (1391-1474) được xác nhận như vị hóa thân của đức Bồ tát Quán Thế Âm và do đó trở thành đức Đạt Lai Lạt Ma đầu tiên lãnh đạo giáo phái Geluk (Cách Lỗ) kiêm giữ chức vụ nguyên thủ điều hành quốc gia. Dalai (Đạt Lai) là tiếng Mông Cổ dịch từ chữ “Gyatso” của Tây Tạng, có nghĩa là “Đại Dương” (Ocean), còn Lama (Lạt Ma) là “Trí Tuệ” (Wisdom). Vậy “Dalai Lama” có nghĩa là “Biển Trí Tuệ”.
 Theo truyền thống kế thừa của dòng phái Đạt Lai Lạt Ma thì sau khi đức Đạt Lai Lạt Ma trước viên tịch, Giáo Hội không chọn lựa bổ nhiệm một vị Lạt Ma tài đức khác lên thay thế mà hàng tăng đồ, đệ tử trong môn phái và chính quyền phải lặn lội đi tìm khắp nơi trong nước một bé trai ở một gia đình nào mà qua nhiều lần thí nghiệm biết chắc rằng em đó đúng là vị đầu thai, tái sanh của đức Đạt Lai Lạt Ma đã mất thì em sẽ được Giáo Hội rước đưa về Lhasa chăm sóc dạy dỗ cả đời lẫn đạo để sau này tấn phong em lên nhận lãnh vai trò của đức Đạt Lai Lạt Ma kế tiếp. Truyền thống lãnh đạo của các vị Đạt Lai Lạt Ma và quyền lực chính trị của giáo phái Phật giáo Geluk hay Mũ Vàng này vẫn được duy trì tồn tại hơn 500 năm qua tại xứ Tây Tạng cho đến năm 1959. Ngài Đạt Lai Lạt Ma hiện nay mà chúng ta gọi “Đức Phật sống” là vị thứ 14. Tên Ngài là Tenzin Gyatso sanh ngày 06-06-1935 tại làng Taktser, quận Dokham, miền đông bắc Tây Tạng. Năm 1940, chưa đầy năm tuổi, Ngài chính thức được chính phủ Tây Tạng suy tôn lên ngôi vị Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 và nắm quyền lãnh đạo quốc giatrong một buổi lễ vô cùng trang nghiêm tổ chức ở cung điện Potala tại thủ đô Lhasa.
 Trung Cộng xâm lăng đánh chiếm Tây Tạng
 dalailama-timeTrước kia mặc dù Trung Quốc vẫn thường tuyên bố rằng Tây Tạng là một phần đất của họ, nhưng chưa thực sự xua quân đánh chiếm xứ này. Ngày 07-10-1950, quân đội Trung Cộng bắt đầu mở cuộc tấn công sáu mặt vào lãnh thổ Tây Tạng, lúc ấy đức Đạt Lai Lạt Ma mới có 15 tuổi. Ngày 07-11-1950, Ngài gửi thư nhờ Liên Hiệp Quốc can thiệp giúp đỡ, nhưng vì Tây Tạng bấy giờ không có chân trong tổ chức này nên lời yêu cầu của Ngài không được đáp ứng. Cùng lúc, đức Đạt Lai Lạt Ma cũng gửi công hàm cho chính quyền Trung Quốc nhắc lại tình hữu nghị xưa nay giữa hai nước và yêu cầu họ rút quân khỏi Tây Tạng cũng như giao trả các tù binh Tây Tạng bị bắt. Nhưng chính phủ Trung Quốc làm ngơ. Sau đó, vì nhận thấykhông đủ sức đương đầu với Trung Cộng về mặt quân sự, nên chính phủ Tây Tạngbuộc lòng phải gửi phái đoàn sang Bắc Kinh nghị hòa ký hiệp ước gồm 17 điều vào ngày 23-05-1951.
Tuy nhiên, nhà cầm quyền Trung Quốc vẫn không giữ đúng hoàn toàn tất cả những điều cam kết đã ký. Hè năm 1951, khoảng 6.000 quân Trung Cộng tiến vào chiếm thủ đô Lhasa. Cuối năm 1955, tình hình lại càng tồi tệ hơn. Hè năm 1956, đức Đạt Lai Lạt Ma được Hội Ma Ha Bồ Đề (Maha Bodhi Society) mời qua dự lễ Phật Đản năm 2500 tại Ấn Độ. Trong lúc Ngài vắng mặt, nhiều cuộc xung đột đã xảy ra giữa quân đội Trung Quốc và Tây Tạng. Cuối năm 1956, dân chúng Tây Tạng bắt đầu ồ ạt bỏ nước ra đi tỵ nạn. Đầu năm 1957, quân đội giải phóng Tây Tạng chiến đấu anh dũng đã lấy lại được một số cứ điểm do Trung Cộng chiếm đóng trước kia, mặc dù lúc ấy quân Trung Cộng có đến 40.000 so với Tây Tạng vào khoảng 6.000.
 Sau khi từ Ấn Độ về đến Lhasa, đức Đạt Lai Lạt Ma đau buồn nghe tin quân đội Trung Cộng đã pháo kích, ném bom, phá hủy các làng mạc, chùa chiền khắp nơi. Nhiều dân lành Tây Tạng bị tra tấn, sát hại. Những nông dân nào tỏ ý chống đối chính quyền Trung Quốc, con gái của họ từ 13 đến 20 tuổi bị cưỡng bức lõa thể đi diễn hành ngoài đường phố, trong khi lính Trung Cộng đứng nhìn, và có những hành động đồi bại vừa la hò thích thú. Nhiều Ni cô Tây Tạng bị lính Trung Cộng hãm hiếp tập thể hoặc có trường hợp bộ đội Trung Quốc dùng súng, lưỡi lê cưỡng bức các nhà Sư và Ni cô lấy nhau trước mặt họ. Nạn nhân đôi khi bị tra tấn bằng cách lột da sống. Chồng bị tàn sát trước mặt vợ; các phụ nữ và con gái bị cưỡng hiếp và bắn chết trước sự chứng kiếncủa thân nhân. Trẻ con Tây Tạng bị bắt buộc cầm súng bắn giết cha mẹ v.v… Theo bản báo cáo của một Ủy Ban Điều Tra tại Quốc Hội Hoa Kỳ về các nạn nhân bị sát hạidưới chế độ Cộng Sản tại Trung Quốc (gồm cả Tây Tạng) trong thời gian những năm 1949-1971 là vào khoảng từ 32 đến 63 triệu người.
 Đức Đạt Lai Lạt Ma bỏ nước ra đi
 Cuối năm 1958, dân chúng Tây Tạng nổi dậy chống Trung Quốc khắp nơi. Ngày 10-03-1959, ngay tại thủ đô Lhasa, quần chúng cũng vùng lên chống đối Trung Cộng. Giữa lúc tình hình khẩn trương, ngày 16-03-1959 đức Đạt Lai Lạt Ma được tin quân đội Trung Cộng đang chuẩn bị pháo kích cung điện Potala ở Lhasa, Ngài khẩn cấp chohọp Hội Đồng Nội Các. Ngài không sợ chết, nhưng nhận thức rằng chính phủ và nhân dân Tây Tạng muốn Ngài phải sống, dù bất cứ ở đâu, để tiếp tục lãnh đạo cuộc tranh đấu giải phóng đất nước. Cuối cùng, vì tiền đồ của dân tộc và đạo pháp, Ngài đã quyết định cùng với một số thân quyến và các vị bộ trưởng trong chính phủ rời khỏi Tây Tạng ngay trong đêm ấy.
dalailamaindia
Hình trên: An unusual photograph depicting the 14th Dalai Lama walking through the mountains in his flight from Tibet in 1959. Seen on the left, wearing his distinctive spectacles, he is joined by his brother and countless followers, his bodyguards consisting of Khampas who comprise the warrior class in Tibet. (http://www.tcoletribalrugs.com/resources/photos-old/tibet-pics-html/DalaiLama.html)
Sau bao ngày dùng ngựa và đi bộ cực nhọc, vượt suối băng đèo, đức Đạt Lai Lạt Mađã an toàn tới được thị trấn Mussoorie dưới chân núi Hy Mã Lạp Sơn, phía bắc New Delhi, thủ đô của Ấn Độ. Cố thủ tướng Ấn Độ, ông Nehru (1889-1964) lúc ấy hay tinliền đến thăm Ngài. Hiện nay, đức Đạt Lai Lạt Ma đang sống với chính phủ lưu vongcủa Ngài tại thị trấn Dharamsala, quận Kangra, tiểu bang Himachal Pradesh, miền bắc Ấn Độ. Ngoài ra, tại các tiểu bang khác trên toàn Ấn Độ hiện có khoảng 50.000 dân tỵ nạn Tây Tạng đang sinh sống. Từ ngày đức Đạt Lai Lạt Ma bỏ nước ra đi, Tây Tạnghoàn toàn bị Trung Cộng chiếm đóng cai trị. Những năm gần đây, nhà cầm quyền Trung Quốc nhiều lần ngỏ ý mời đức Đạt Lai Lạt Ma trở về nước, nhưng Ngài đã từ chối vì tự thấy rất khó có thể tin tưởng vào thiện chí của những người Cộng Sản.
dalailamaindia-2
The Dalai Lama escorted by Tibetan resistance fighters -- 
leaving Tibet to seek asylum in India (March 1959)
Chủ trương đàn áp tiêu diệt Phật giáo Tây Tạng của Trung Cộng
 Theo tài liệu của ký giả John Avedon viết trong tờ Washington Post mà tạp chí Golden Drum (No. 8, Feb.–Apr.1988, London) trích đăng lại và bài viết “Tibet and Chinese: A Viewpoint” của John Mc Clelian đăng ở tạp chí “The Vajradhatu Sun” (Vol.9, No.2, Dec.87 – Jan.88) cho biết kể từ năm 1950 Trung Cộng xâm lăng Tây Tạng đến nay đã có 1,5 triệu (khoảng 1 phần 5 dân số) chư Tăng Ni và dân chúng Tây Tạng bị sát hại; 6.500 ngôi chùa bị phá hủy cùng nhiều kim loại quý và tác phẩm mỹ thuật Phật giáo trị giá khoảng 80 tỷ Mỹ kim đã bị nhà cầm quyền Trung Quốc tước đoạt. Trung Cộng hiện có 350.000 quân đóng ở Tây Tạng để kiểm soát 84 nhà tù đang còn giam giữ từ 20.000 đến 100.000 người, phần đông ở trại tập trung khổng lồ lớn nhất thế giới “Amdo Gulag”, miền đông bắc Tây Tạng. Những người bị giam ở đây phần lớn vì tội chống chính phủ, trong đó có Lạt Ma Geshe Lobsang Wangchuk, một Triết gia và Sử gia nổi tiếng Tây Tạng mà Hội Ân Xá Quốc Tế đã từng lên tiếng can thiệp (có tin Ngài đã chết trong tù ngày 04-11-1987).
 Ngoài việc chiếm đóng quân sự, hiện nay chính sách của Trung Cộng là muốn đồng hóa và làm suy yếu dân tộc Tây Tạng. Chính phủ đã khuyến khích 7,5 triệu dân Trung Quốc qua định cư sinh sống ở Tây Tạng. Mặc dù nhà cầm quyền Trung Cộng hứa hẹn giúp đỡ dân chúng Tây Tạng có công ăn việc làm và giáo dục cho trẻ em, nhưng theo tài liệu của Quốc Hội Hoa Kỳ cho thấy chính quyền Trung Quốc muốn kiềm hãm người dân Tây Tạng trong tình trạng lạc hậu và dốt nát. Cũng có tin nói rằng hàng ngàn phụ nữ Tây Tạng đã bị cưỡng bức phá thai, chẳng hạn John Avedon viết “Tại Lhasa nhiều phụ nữ Tây Tạng vừa sinh xong, nghe tiếng em bé khóc thì liền sau đó, họ được báo cho biết là đứa trẻ đã chết”.
 Ký giả Jack Anderson trên báo Washington Post (ngày 28-03-1988) đã viết: “Tây Tạng từ 38 năm qua dưới chính sách cai trị độc tài của Trung Cộng đã hoàn toàn bị cô lập, cắt đứt liên lạc với thế giới bên ngoài, nhưng mấy năm gần đây, nhằm thu hoạch ngoại tệ của khách du lịch, nhà cầm quyền Trung Quốc đã cho phép nhiều du khách đến viếng xứ này. Tháng 10 năm 1987, sau biến cố dân chúng Tây Tạng nổi lên biểu tìnhchống chính phủ, Tây Tạng lại bị đóng cửa trở lại. Chính quyền Trung Cộng đã ngăn cấm không cho du khách và ký giả Tây phương đến viếng Lhasa. Nhiều dân tỵ nạn Tây Tạng trốn ra được nước ngoài cho biết, nhà cầm quyền Trung Quốc vẫn tiếp tụcbắt bớ, tra tấn, đàn áp, sát hại những phần tử chống đối… Chỉ hai ngày sau khi đức Đạt Lai Lạt Ma đến viếng thăm Hoa Kỳ đưa ra kế hoạch hòa bình giữa dân chúng Tây Tạng ủng hộ ông và chính quyền Trung Quốc, ngày 24-09-1987, quân đội và cảnh sát Trung Cộng đã tập trung bao vây 15.000 dân chúng Tây Tạng tại một sân vận động ở Lhasa để buộc họ chứng kiến lính Trung Cộng hành quyết hai người Tây Tạng theo quốc gia”.
 Theo bản báo cáo “Asia Watch” dày 74 trang được phổ biến tại Washington D.C. ngày 11-02-1988 của tổ chức Nhân Quyền “Human Rights Watch” cho biết các nhà chính trị tích cực bị chính quyền Trung Cộng bắt giam tại Tây Tạng phần đông họ là những phần tử dám phát biểu công khai chống đối sự cai trị và chính sách của Trung Quốchoặc ủng hộ đường lối chính trị của đức Đạt Lai Lạt Ma và nền độc lập của Tây Tạng. Những cuộc bắt bớ thường xảy ra ban đêm và thân nhân gia đình không được thông báo trước. Người bị bắt không được đưa ra tòa xét xử mà thường trong khi lấy khẩu cung họ bị cưỡng bức ký vào những tờ giấy nhận tội đã làm sẵn. Lúc xét hỏi, họ thường bị tra tấn. Theo lời tường thuật của một người Tây Tạng tỵ nạn được Asia Watch phỏng vấn cho biết: Nếu ai can đảm dám phát biểu Tây Tạng là một quốc giađộc lập, chân tay họ liền bị xích lại và tra điện. Toàn thân nạn nhân run lên và không thể mở miệng nói gì hết.
 Tháng 01 năm 1988, hai nhân viên của Quốc Hội Hoa Kỳ, ông Paul H.Berkowitz và Keith J.Pitts phỏng vấn nhiều dân tỵ nạn Tây Tạng ở Nepal được họ kể cho biết rằng sau cuộc biểu tình chống Trung Quốc của dân chúng xảy ra ngày 01-10-1987, hiện nay tại Lhasa, nhà cầm quyền Trung Cộng vẫn tiếp tục đàn áp, bắt bớ, tra tấn, tù đày, tẩy não, bắn giết nhân dân Tây Tạng. Tờ Washington Post số ra ngày 29-01-1988 tường thuật là: “Một phụ nữ Tây Tạng đã bị công an Trung Cộng dùng điện tra tấn nơi chỗ kín. Người Trung Quốc đối xử với dân Tây Tạng như loài chó. Đó là nguyên nhânxảy ra các cuộc nổi dậy bạo động chống đối Trung Cộng của dân chúng Tây Tạng. Các nhà Sư bị cảnh sát đánh bằng xẻng và cuốc”.
 Khi ở Nepal, ông Pitts cũng được dân tỵ nạn Tây Tạng cho biết nhân viên chính quyền Trung Cộng hứa sẽ thưởng 100 mỹ kim cho bất cứ lính biên phòng Nepal nào bắt được một người Tây Tạng vượt biên trốn đi giao lại cho họ. Hãng thông tấn Associated Press ngày 25-01-1988 tường thuật hơn 5.000 dân chúng Tây Tạng đã bị bắt sau cuộc biểu tình chống chính phủ xảy ra ngày 01-10-1987, nửa trong số đó là phụ nữ và trẻ em. Họ bị giam trong các nhà tù với hoàn cảnh sinh sống thật hết sức tồi tệ chưa từng thấy, thường xuyên bị lấy khẩu cung, tra tấn và bỏ đói.
 Mặc dù bạo quyền Trung Cộng tìm mọi cách đàn áp khủng bố tinh thần dân chúng, họ vẫn không ngăn chặn được các cuộc biểu tình chống đối tiếp tục nổ ra. Cuối tháng 11 năm 1987, chư Tăng chùa Ganden (Cách Đăng), cách thủ đô Lhasa 40 cây số về hướng đông, đã phản đối sự hiện diện của quân đội Trung Quốc tại chùa họ. Một xe cảnh sát bị các nhà Sư đốt cháy và 80 vị Lạt Ma đã bị bắt. Cuộc biểu tình thứ hai xảy ra vào ngày 19-02-1987 khi 20 Ni cô Tây Tạng diễn hành quanh chùa Jokhang ở Lhasa và hô khẩu hiệu đả đảo quân đội Trung Cộng chiếm đóng Tây Tạng. Tất cả sau đó đều bị bắt.
 Để chống lại những người biểu tình, chính quyền Trung Cộng cho thành lập nhiều ủy ban tuyên truyền mà mục đích chính của họ là tổ chức các buổi học tập. Tại các lớp học này, người dân Tây Tạng bị cưỡng bức lên án các cuộc biểu tình đã xảy ra, kết tội những ai có ý tưởng muốn Tây Tạng độc lập hoặc ủng hộ đức Đạt Lai Lạt Ma lưu vong. Họ cũng bị bắt buộc bày tỏ ý muốn thấy Tây Tạng được sát nhập và thống nhất vào Trung Quốc v.v… Cũng theo bản báo cáo Asia Watch, hiện nay tại Tây Tạng nhà cầm quyền Trung Quốc giới hạn tối đa mọi công tác sửa chữa, trùng tu chùa chiền, kiểm soát tất cả như tài sản, tiền bạc của các tu viện, và ngăn cấm sự thuyết giảngtruyền bá Phật pháp trong nước cũng như nỗ lực tách rời việc giáo dục Phật giáo ra khỏi ảnh hưởng của các chùa v.v… Chính quyền Trung Cộng còn cấm đoán người dân không được lưu giữ lá cờ quốc gia của Tây Tạng trước kia cũng như bất cứ tài liệu, vật dụng gì có liên quan đến những người Tây Tạng hiện đang sống tỵ nạn ở Ấn Độ.
Đại lễ cầu nguyện tại chùa Jokhang ở Lhasa biến thành biểu tình chống đối Trung Cộng xâm lăng Tây Tạng
 Một tuần trước khi xảy ra biến cố này, tình hình thủ đô Lhasa thật khẩn trương. Đài BBC ngày 28-02-1988 loan tin: “Hàng ngàn lực lượng an ninh và cảnh sát Trung Cộng được lệnh di chuyển vào Lhasa – các đường chính dẫn đến thủ đô đều bị phong tỏa. Nhiều đoàn xe bọc sắt đi tuần tiểu ngoài đường phố vào ban đêm và dân chúng được loan báo trên loa phóng thanh là nên ở trong nhà. Quân đội cũng cảnh cáo – Nếu ai bất tuân sẽ bị bắn ngay tại chỗ”. Hãng thông tấn Reuters đánh đi từ Bắc Kinh cho biếtmột tuần trước Đại Lễ Cầu Nguyện Monlam Chenmo, hàng ngàn cảnh sát Trung Cộng đội nón sắt, tay cầm dùi cui với 50 xe quân sự hướng dẫn cuộc tập dượt tuần hành xung quanh chùa Jokhang, nơi đại lễ nói trên sẽ được tổ chức. Các ký giả Tây phươngở Bắc Kinh bị nhà cầm quyền Trung Quốc từ chối, không cấp giấy phép đến thăm Lhasa. Ngoại trừ chỉ có thông tín viên đài BBC Tim Luard và ký giả hãng thông tấn Pháp Kathy Wilhelm được phép gia nhập cùng đi với một nhóm du khách đến Lhasa để dự xem lễ Monlam Chenmo.
 Khoảng 30 du khách ngoại quốc ở Lhasa nói rằng tình hình tại thủ đô hết sức căng thẳng và cảnh sát đã xét hỏi giấy thông hành của họ. Du khách được chính quyền cảnh cáo là không nên đến viếng các chùa và đừng tham dự vào bất cứ cuộc biểu tìnhnào chống chính phủ của dân chúng. Mặc dù nhà cầm quyền Trung Cộng đã chuẩn bị đối phó ngăn chặn các cuộc biểu tình xảy ra, nhưng vẫn thất bại. Theo tin tức đăng ở tờ New York Times số ra ngày 17-03-1988 cho biết hơn 5.000 dân chúng Tây Tạng đã tổ chức biểu tình tại Lhasa ngày 05-03-1988 và họ yêu cầu Trung Quốc trao trả độc lậpcho Tây Tạng.
 Nguyên do phát xuất cuộc biểu tình trên là nhân dịp lễ bế mạc 10 ngày Đại Hội Cầu Nguyện Monlam Chenmo tại chùa Jokhang ở Lhasa, một nhà sư bị bắt vì đã đứng lên hô hào đòi quyền độc lập cho Tây Tạng. Bạo động xảy ra sau khi 2.000 cảnh sát võ trang và bán quân sự Trung Cộng tấn công chùa Jokhang. Cảnh sát dùng lựu đạn cay đàn áp và 100 vị Lạt Ma đã bị bắt. Một nhà sư 15 tuổi và ba thường dân đã bị cảnh sát bắn chết. Về phía cảnh sát có ba tên bỏ mạng theo tin của hãng thông tấn Pháp. Sau đó, dân chúng tức giận tấn công một bót cảnh sát và một văn phòng của Hội Phật Giáo Tây Tạng do nhân viên chính quyền Trung Cộng kiểm soát. Một du khách Hoa Kỳ, ông Benjamin Watson tường thuật rằng có 16 nhà sư Tây Tạng đã bị sát hại trong cuộc xung đột. Vài vị đã do cảnh sát bắn chết, có người bị ném từ trên tầng lầu cao xuống đất. Theo tin của tờ Newsweek ấn hành ngày 21-03-1988 tường thuật rằng: “Một du khách Nhật đã chứng kiến năm cảnh sát đánh vỡ đầu một nhà sư bằng gậy”.
 Báo The Wall Street Journal ngày 11-03-1988 đã cho biết “ít nhất có 600 người đã bị bắt sau khi xảy ra cuộc đụng độ hôm thứ bảy 05-03-1988 giữa cảnh sát và những người ủng hộ quyền độc lập của Tây Tạng”. Ngày 11-03-1988 nhà cầm quyền Trung Cộng đã cảnh cáo các phần tử Tây Tạng chống đối chính phủ phải ra trình diện vào ngày 20-03-1988, nếu không sẽ bị trừng phạt nặng. Chính quyền Trung Quốc đã đàn áp thẳng tay nhân dân Tây Tạng. Lực lượng an ninh võ trang đã bố ráp từng nhà để bắt những người bị tình nghi là theo chủ trương ly khai. Tuy nhiên, tình hình bất ổn ở thủ đô Lhasa vẫn lan tràn đến các nơi khác. Báo Ottawa Citizen tường thuật cho biết là ngày 11-03-1988 có nhiều vị Lạt Ma và các em học sinh trung học ở tỉnh Amdo, phía đông bắc Tây Tạng đã nổi dậy đòi nhà cầm quyền Trung Cộng trao trả độc lập cho quốc gia họ. Họ cũng phản đối chương trình kế hoạch hóa gia đình và hành động cưỡng bức phụ nữ Tây Tạng phá thai của chính quyền.
 Cuộc biểu tình lớn ngày 05-03-1988 tại thủ đô Lhasa xảy ra trùng hợp với chuyến sang thăm chính thức Hoa Kỳ của ông Wu Xuequian, bộ trưởng ngoại giao Trung Cộng. Trước đó, ông ta tuyên bố muốn gặp thảo luận với các dân biểu Quốc Hội Hoa Kỳ bất cứ vấn đề gì, kể cả Tây Tạng. Tuy nhiên, sau biến cố ngày 05-03-1988, ông Wu đã hủy bỏ cuộc gặp gỡ dự trù sẽ diễn ra vào ngày 08-03-1988 với các nhân vật trong Ủy Ban Ngoại Giao của chính phủ Mỹ. Tòa đại sứ của Trung Cộng ở Hoa Thịnh Đốn cũng không đưa ra lời giải thích nào về việc hủy bỏ đó. Ngày 07-03-1988, đức Đạt Lai Lạt Ma đã gửi một văn thư cho tổng thống Reagan và yêu cầu ông lên tiếng về tình hình ở Tây Tạng, nhưng không thấy tổng thống Reagan nói gì. Tuy nhiên, theo tin từ tòa Bạch Ốc, ông Schultz, bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ, trong cuộc gặp gỡ với ông Wu, có đề cập đến vấn đề Tây Tạng.
 Thái độ của chính phủ Hoa Kỳ trước hành động vi phạm nhân quyền của nhà cầm quyền Trung Cộng ở Tây Tạng
 Ngày 18-06-1987, hạ viện Mỹ đã thông qua một nghị quyết lên án hành động vi phạmnhân quyền của chính quyền Trung Quốc ở Tây Tạng và một dự luật tương tự cũng được thông qua tại thượng viện ngày 09-10-1987.
 Ngày 21-09-1987, đức Đạt Lai Lạt Ma, lãnh đạo chính phủ lưu vong Tây Tạng ở Dharamsala (Ấn Độ) đưa ra kế hoạch 5 điểm nhằm giải quyết vấn đề Tây Tạng:
 1) Biến Tây Tạng thành một khu vực hòa bình. Tây Tạng cần được duy trì như một quốc gia Phật giáo hòa bình và trung lập.
 2) Chấm dứt sự di dân Trung Quốc ồ ạt vào Tây Tạng.
 3) Tôn trọng quyền tự do dân chủ và nhân quyền căn bản của nhân dân Tây Tạng.
 4) Duy trì và bảo vệ môi trường sinh sống thiên nhiên ở Tây Tạng, kể cả việc chấm dứt sản xuất vũ khí nguyên tử và vứt bỏ những cặn bã của vật dụng nguyên tử vào lãnh thổ Tây Tạng.
 5) Khởi đầu các cuộc thương thuyết về địa vị tương lai của Tây Tạng cùng sự quan hệ giữa nhân dân Trung Quốc và Tây Tạng.
 Trong văn thư gửi cho thủ tướng Trung Cộng, các dân biểu của thượng và hạ viện Quốc Hội Hoa Kỳ, kể cả ông Claiborne Pell, chủ tịch ủy ban liên lạc ngoại giao hạ viện và Dante Fascell, chủ tịch ủy ban ngoại giao thượng viện Hoa Kỳ, đã ủng hộ đề nghị năm điểm của đức Đạt Lai Lạt Ma, xem đó như là “một bước tiến lịch sử nhằm giải quyết thỏa đáng vấn đề thiết yếu của Tây Tạng cùng làm giảm bớt sự đau khổ cho nhân dân Tây Tạng”.
 Về phía Trung Quốc, trong bài Xã Thuyết đăng ở tờ nhân dân nhật báo số ra ngày 07-10-1987, chính quyền Trung Cộng đã lên án đề nghị năm điểm của đức Đạt Lai Lạt Ma, xem đó như là mục đích nhằm phục hồi nền độc lập của Tây Tạng, chia cắt đất nước, phá hoại tinh thần đoàn kết giữa các chủng tộc và vi phạm đến sự toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc. Trung Cộng cũng trách cứ nói rằng, chính đức Đạt Lai Lạt Maphải chịu trách nhiệm về những xáo trộn xảy ra gần đây ở Lhasa. Trong một thông cáo phổ biến ở Bắc Kinh, nhà cầm quyền Trung Cộng tuyên bố rằng vấn đề Tây Tạng là hoàn toàn thuộc nội bộ của Trung Quốc. Chính quyền đã từ chối việc cho phép một phái đoàn điều tra của Quốc Hội Hoa Kỳ sang Tây Tạng để quan sát về tình trạng vi phạm nhân quyền tại đây. Ngày 18-10-1987, Đặng Tiểu Bình tình, nhân vật lãnh đạocao cấp của Trung Quốc ra thông báo nói rằng “vấn đề liên quan đến Tây Tạng là công việc nội bộ của Trung Quốc, Quốc Hội Hoa Kỳ không có quyền can dự vào”.
 Ngày 03-10-1987, tại Dharamsala (Ấn Độ) đức Đạt Lai Lạt Ma đã lên tiếng: “Tôi rất đau buồn và xót thương cho các Tăng Ni cũng như Phật tử đã bỏ mình và bị thươngtrong những cuộc biểu tình chống chính phủ Trung Cộng gần đây ở Tây Tạng. Tôi tin rằng bạo lực không phải là phương pháp để giải quyết vấn đề. Tôi kêu gọi các tổ chức nhân quyền cùng những người ủng hộ sự tự do và công bằng trên thế giới hãy thuyết phục nhà cầm quyền Trung Quốc nên chấm dứt hành động tàn sát những dân lành vô tội và phóng thích các tù nhân đang bị giam giữ ở Tây Tạng”. Ngày 08-10-1987, hãng thông tấn Associated Press trích dẫn lời đức Đạt Lai Lạt Ma phát biểu: “Tôi không thể làm nản lòng ý chí quyết định về nền độc lập của nhân dân Tây Tạng, nhưng tôi cũng không muốn chấm dứt mối quan hệ trực tiếp giữa tôi với chính quyền Trung Cộng”.
 Trên đây, chúng tôi xin lược tóm trình bày đại cương qua sự tường thuật của các hãng thông tấn và báo chí Tây phương về những diễn biến “pháp nạn” đã xảy ra tại quốc gia Tây Tạng từ hơn 50 năm qua cũng như thời gian sau này, tháng 10 năm 1987 đến tháng 03 năm 1988 mà hàng triệu chư Tăng Ni, Phật tử và dân chúng Tây Tạng đã phải âm thầm hy sinh và chịu đựng dưới chế độ cai trị độc tài, tàn ác của chính quyền Trung Cộng hầu giúp quý độc giả Phật tử gần xa nhận thức và chia xẻphần nào nỗi khổ đau tủi nhục triền miên của những người con Phật nơi đất nước Tây Tạng.
 Chúng ta cầu nguyện cho nhân dân Tây Tạng chóng đạt được thành quả trong mục tiêu tranh đấu giành lại chủ quyền độc lập cho quốc gia để ánh đạo vàng của đức Thế Tôn có dịp được phát triển, và bành trướng mạnh mẽ như ngày nào hơn 50 năm trước dưới sự lãnh đạo tài đức của các vị Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng nơi vùng đất xa xôi quanh năm tuyết phủ này.
Tài liệu tham khảo :
1. Michael Buckley & Robert Strauss, Tibet - A Travel Survival Kit, Lonely Planet Publications, Victoria, Australia, 1986.
2. Dalai Lama, My Land and My People, Potala Publications, New York, 1985.
3. L.Austine Waddell, Tibetan Buddhism, With Its Mystic Cults, Symbolism and Mythology, Dover Publications, New York, 1972.
4. Roger Hicks & Ngakpa Chogyam, Great Ocean –An Authorised Biography The Dalai Lama, Elements Books Ltd., Longmead, England, 1984.
5. Các báo, tạp chí: - Golden Drum, No.8 February –April 1988, Windhorse Publications, Glasgow, Scotland.
 - Snow Lion Newsletter, Snow Lion Publications, Vol.3, No.1 New York, Spring 1988.
 - The Vajradhatu Sun, December 1987 –January 1988, Vol.9, No.2 & April –May 1988, Vol.10, No.4.
 - The Post Standard, 07-03-1988, Hongkong.
 - The Wall Street Journal, 11-03-1988.
 - The New York Times, 07 & 17-03-1988.
 - The Washington Post, 28-03-1988

Máu nhuộm đường "Tơ Lụa"
Một sự kiện gấy sốc toàn thế giới vào tháng 9 năm 2006, với đoạn film được ghi lại từ những nhà leo núi thế giới, khi đang thám hiểm ngọn Nangpa Pass thuộc rặng Hymalaya.
 
Đoàn người leo núi ghi lại những hình ảnh và film khi phát hiện đoàn người Tây Tạngđang trên đường vượt thoát khỏi Tây Tạng, bị lính biên phòng Trung Quốc dùng súng trường bắn chết họ. (Giống như hoàn cảnh Thuyền Nhân Việt Nam xưa kia tẩu thoát khỏi Việt Nam bằng thuyền hoặc bằng đường bộ)
Xem trong Video chúng ta thấy lính biên phòng Trung Cọng có súng trang bị hệ thốngnhắm từ xa bắn thẳng vào đoàn người Tây Tạng khiến cho đoàn thám hiểu leo núi người Tây phương vô cùng sửng sốt trước hành động vô nhân đạo này. Nhân chứng là cô thiếu nữ Kelsang Namtso thoát chết trên đường vượt thoát. Đoàn thám hiểm leo núi đã tiếp tay cứu giúp,và đưa đoạn film ghi được ra về New York và được truyền thông trên thế giới. . . Ngọn Nangpa Pass là trục được nối từ Tibel đến Nepal. Đây là con đường "Tơ Luạ" nổi tiếng từ xa xưa., (Được đặt tên: Máu nhuộm đường "Tơ Lụa")

Bộ phim gồm 6 tập và phần giới thiệu: 
Giới thiệu film: http://www.youtube.com/watch?v=LYN-mzRLABg&feature=player_embedded 
Phần 1: http://www.youtube.com/watch?v=hrj9JOOvlos&feature=related 
Phần 2: http://www.youtube.com/watch?v=XzbGw-WZcL8&NR=1
Phần 3: http://www.youtube.com/watch?v=xN7D-gzVQ4g&NR=1
Phần 4: http://www.youtube.com/watch?v=SsZ75DiaCxE&NR=1
Phần 5: http://www.youtube.com/watch?v=cVkeRa2H7T8&NR=1
Phần 6: http://www.youtube.com/watch?v=3syoU6GPyjY&NR=1

https://thuvienhoasen.org/a9807/phat-giao-tay-tang-duoi-chinh-sach-cai-tri-tan-ac-cua-trung-cong-hoa-thuong-thich-tri-chon

Thứ Sáu, 1 tháng 12, 2017

BOT và tham nhũng

BOT và tham nhũng

 8
Chống tham nhũng thực sự cần bắt đầu ngay từ việc chống lạm thu, thu sai các loại phí, thuế, bỏ ngay những trạm BOT đặt sai vị trí, xử lý ngay những người lạm quyền cố ý làm sai gây hậu quả xấu cho kinh tế và xã hội...
    Vụ việc trạm thu phí BOT ở Cai Lậy, Tiền Giang từ đầu tháng 8.2017 qua một thời gian tạm lắng nhưng chưa có dấu hiệu kết thúc thì đến nay lại bùng phát.
    Bộ Giao thông - Vận tải đã phải họp để giải quyết nhưng hướng “quyết” của Bộ không “giải” được vấn đề cốt lõi: vì sao trạm thu phí lại đặt ở vị trí “đón lõng” tất cả xe đi qua, bất kể có đi vào “đường tránh” hay không?
    Từ vấn đề này nảy sinh thêm nhiều câu hỏi khác như, vì sao giá vé ở đây quá cao, vì sao đoạn quốc lộ 1A qua thị trấn Cai Lậy – con đường huyết mạch có từ thời xa xưa – thuộc chức trách quản lý, bảo trì, sửa chữa của nhà nước, cụ thể là Bộ Giao thông - Vận tải, mà nay lại giao cho tư nhân “nâng cấp” để rồi thu phí?...
    Rất đông Cảnh sát giao thông, Cảnh sát cơ động của Công an tỉnh Tiền Giang và Công an huyện Cai Lậy được điều đến BOT ở Cai Lậy ngày hôm qua (30.11). Ảnh: Zing.vn
    Rất nhiều câu hỏi vì sao đã được đặt ra từ phía người dân. Nhưng về phía nhà quản lý là Bộ Giao thông - Vận tải thì ngay một câu hỏi đơn giản nhất cũng không được đặt ra và trả lời nghiêm túc: Vì sao người dân bức xúc và phản ứng? Cụ thể là những lái xe qua đoạn đường này, dù phải chờ đợi hàng giờ dưới cái nắng nóng như thiêu hay trong cơn mưa tầm tã thì họ vẫn cùng nhau thực hiện một hành động trả phí bằng các loại tiền lẻ.
    Trước đó ở miền Trung đã có một trạm thu phí bị lái xe phản ứng cũng bằng cách này, nhưng hiệu quả không cao và sự lan truyền không mạnh mẽ. Nhưng đến BOT Cai Lậy, Tiền Giang thì có tác động ngay vì lưu lượng xe qua lại trên con đường này quá lớn, chỉ cần ùn tắc ít phút ở trạm BOT là tạo ra “phản ứng dây chuyền” cả đoạn đường dài.
    Hiện nay quốc lộ 1A từ TP.HCM về Đồng bằng Sông Cửu Long gần như là “độc đạo”! Thực hiện đúng BOT là làm thêm một con đường khác (nhất là những đoạn qua thành phố, thị xã)… thì vừa phá thế độc đạo rất nguy hiểm đối với tính mạng hàng trăm ngàn lượt người, xe qua lại hàng ngày, vừa tăng cường được hiệu quả giao thông qua việc rút ngắn thời gian vận chuyển. Như vậy cả lợi ích kinh tế - xã hội đều đạt được.
    Nếu đường mới làm bằng phương thức BOT thì chỉ được phép đặt trạm thu phí cho đoạn đường đó. Thời gian đầu có thể các chủ phương tiện giao thông còn né tránh nhằm tiết kiệm chi phí. Nhưng nếu đường và trạm đặt ở vị trí hợp lý và mức phí phù hợp thì chắc chắn về lâu dài đó là “phương án chọn” của đa số phương tiện giao thông. Bởi vì, trong bài toán kinh tế “thời gian” không chỉ là tiền mà còn là “vàng, kim cương”, hơn nữa, độ an toàn với người sử dụng phương tiện giao thông cao hơn.
    Tuy nhiên, dù chính sách BOT cho thấy “ích nước lợi nhà” nhưng trong thực tế việc thực thi BOT đã không nhằm đến “phát triển bền vững” và trước mắt là đảm bảo quyền lợi chính đáng của đa số người dân mà rõ ràng chỉ vì lợi ích của một nhóm người. Bất chấp phản ứng của người dân trạm BOT vẫn đặt ở vị trí vô lý “không đi qua vẫn phải nộp tiền”!
    Sự việc ở Cai Lậy làm lộ ra nhiều trạm thu phí BOT khác trên những con đường huyết mạnh của cả nước cũng bị tình trạng tương tự. 
    Sai phạm ở nhiều BOT Bộ Giao thông - Vận tải đã thừa nhận. Vậy nhưng chính quyền những địa phương ấy không có biện pháp thỏa đáng, nhằm khắc phục những sai phạm thiếu sót mà chỉ tập trung vào “xử lý” tài xế thực hiện hành vi dân sự là trả phí bằng tiền lẻ?
    Chống tham nhũng thực sự cần bắt đầu ngay từ việc chống lạm thu, thu sai các loại phí, thuế, bỏ ngay những trạm BOT đặt sai vị trí, xử lý ngay những người lạm quyền cố ý làm sai gây hậu quả xấu cho kinh tế và xã hội. Lập lại sự công bằng, lấy lại niềm tin trong dân chúng để ngăn chặn và tiêu diệt virus “coi thường nhân dân”.
    Sài Gòn 1.12.2017
    Nguyễn Thị Hậu
    http://nguoidothi.net.vn/bot-va-tham-nhung-11568.html

    14 giờ, ba lần 'thất thủ', BOT Cai Lậy có dừng thu phí?

    14 giờ, ba lần 'thất thủ', BOT Cai Lậy có dừng thu phí?

     Bị tài xế phản đối liên tục, chỉ từ 12h45 ngày 30-11 đến 2h30 ngày 1-12, trạm BOT Cai Lậy đã ba lần "thất thủ" phải xả trạm.

    Lực lượng chức năng đưa những người được cho quá khích khỏi hiện trường  - Video: H.L
    Đến 9h sáng 1-12, sau đợt xả trạm thứ 3 vào lúc 2h30 cùng ngày kể từ thời điểm thu phí trở lại vào ngày 30-11, BOT Cai Lậy vẫn chưa thu phí trở lại.
    Trao đổi với Tuổi Trẻ Online về khả năng thu phí trở lại, ông Nguyễn Phú Hiệp - giám đốc Công ty TNHH đầu tư quốc lộ 1 - sáng 1-12 cho biết hiện nay vẫn chưa có kế hoạch mới và vẫn chưa biết lúc nào mới thu phí trở lại.
    "Nhà đầu tư phải họp bàn với các ngành chức năng mới có thể biết được khi nào có thể thu phí trở lại", ông Hiệp nói.
    Theo ghi nhận, tại khu vực trạm hiện có hơn 20 nhân viên bảo vệ làm nhiệm vụ bảo vệ các chốt thu phí cùng một số cảnh sát giao thông, thanh tra giao thông. 
    14 giờ, ba lần thất thủ, BOT Cai Lậy có dừng thu phí? - Ảnh 2.
    Lúc 8h30 ngày 1-12, BOT Cai Lậy vẫn chưa thu phí trở lại - Ảnh: HỮU THUẬN
    Trạm BOT Cai Lậy bắt đầu thu phí trở lại từ 9h sáng 30-11. Tuy nhiên nhiều tài xế tiếp tục phản đối bằng cách trả tiền lẻ gây kẹt xe ở hai đầu trạm.
    Đến 12h45 ngày 30-11 trạm phải xả trạm lần thứ nhất. 13h35 cùng ngày trạm thu phí trở lại. Song đến 16h50 ngày 30-11 trạm Cai Lậy phải xả trạm lần hai sau sự cố ùn ứ do các tài xế gây nên.
    Hai tài xế được cho là có hành vi quá khích tại khu vực trạm bị lực lượng chức năng cách ly khỏi hiện trường.
    Hơn 90 phút sau, lúc 18h30, BOT Cai Lậy thu phí trở lại. Đến 19h30, hướng từ TP.HCM về Cần Thơ xe chạy bình thường còn chiều ngược lại vẫn còn ùn ứ. 
    Tuy nhiên đến 1h30 ngày 1-12, hướng lưu thông từ TP.HCM đi Cần Thơ tê liệt hoàn toàn tại trạm này khi một nhóm tài xế trả tiền lẻ 25.100 đồng và yêu cầu phải thối đủ. Đến 2h30, trạm đành phải xả trạm lần thứ ba.
    Trước đó, khi trạm sắp đi vào hoạt động trở lại, ông Lưu Văn Hào - phó chủ tịch HĐQT Công ty TNHH đầu tư quốc lộ 1 Tiền Giang - khẳng định vị trí đặt trạm và mức phí tại trạm thu phí Cai Lậy đã được sự đồng ý của cơ quan chức năng và sẽ không có sự điều chỉnh nào nữa.
    14 giờ, ba lần thất thủ, BOT Cai Lậy có dừng thu phí? - Ảnh 3.
    Lực lượng vũ trang tham gia gìn giữ trật tự tại BOT Cai Lậy ngày 30-11 - Ảnh: T.TH.
    14 giờ, ba lần thất thủ, BOT Cai Lậy có dừng thu phí? - Ảnh 4.
    Người dân vây kín trạm thu phí chiều 30-11 - Ảnh: THANH TÚ
    14 giờ, ba lần thất thủ, BOT Cai Lậy có dừng thu phí? - Ảnh 5.
    Tài xế chuẩn bị tiền lẻ để trả cho trạm thu phí - Ảnh: HỮU THUẬN
    Trạm thu phí BOT Cai Lậy chính thức thu phí từ ngày 1-8-2017. Tuy nhiên các tài xế cho rằng vị trí đặt trạm không hợp lý, mức phí quá cao nên phản đối bằng cách đưa tiền lẻ gây kẹt xe, buộc trạm phải xả trạm nhiều lần.
    Đến ngày 15-8, trạm phải ngừng thu phí. Sau nhiều cuộc làm việc giữa các cơ quan chức năng, cuối cùng một phần yêu cầu của tài xế được đáp ứng khi chủ đầu tư đồng giảm phí qua trạm.
    Cụ thể mức phí hiện hữu thấp nhất đối với xe dưới 12 chỗ, xe tải dưới 2 tấn 25.000 đồng/lượt (truớc 35.000 đồng), mức cao nhất 140.000 đồng (trước 180.000 đồng) đối với xe tải từ 18 tấn trở lên và xe đầu kéo container trên 40 feet.
    SƠN LÂM - MẬU TRƯỜNG
    https://tuoitre.vn/14-gio-ba-lan-that-thu-bot-cai-lay-co-dung-thu-phi-20171201080134601.htm






    Thứ Năm, 30 tháng 11, 2017

    Cảnh sát can thiệp BOT Cai Lậy đúng hay sai?

    Cảnh sát can thiệp BOT Cai Lậy đúng hay sai?

    Giữa căng thẳng tài xế - "nhà trạm" ở BOT Cai Lậy, lực lượng công an đã nhiều lần can thiệp, thu giữ giấy tờ của tài xế, mời tài xế về làm việc...

    Cảnh sát can thiệp BOT Cai Lậy đúng hay sai? - Ảnh 1.
    Lực lượng công an bố trí dày đặc tại khu vực trạm thu phí Cai Lậy ngày 30-11 - Ảnh: THANH TÚ
    14 giờ, ba lần 14 giờ, ba lần 'thất thủ', BOT Cai Lậy có dừng thu phí?
    TTO - Bị tài xế phản đối liên tục, chỉ từ 12h45 ngày 30-11 đến 2h30 ngày 1-12, trạm BOT Cai Lậy đã ba lần "thất thủ" phải xả trạm.
    Sau lần xả cửa thứ nhất từ 12h45 đến 13h35 ngày 30-11, khi trạm thu phí BOT Cai Lậy trên quốc lộ 1 (Tiền Giang) hoạt động trở lại, các tài xế tiếp tục trả tiền lẻ và lần này họ nhất quyết không vào bãi dành riêng cho xe trả tiền lẻ.
    Với những trường hợp này, kịch bản của "nhà trạm" là dùng xe cẩu cẩu các xe ra khỏi làn thu phí. Tuy nhiên, các tài xế vẫn cố thủ trên xe. 
    Theo một tài xế: "Việc trả tiền thu phí, dù là tiền mệnh giá lớn hay nhỏ, là giao dịch dân sự giữa tài xế và phía đơn vị thu phí. Công an không có quyền can thiệp vào và không được cẩu xe vì chúng tôi không vi phạm Luật Giao thông đường bộ".
    Đỉnh điểm là vào khoảng 16h, tài xế xe 61A 276... đến buồng thu phí trả tiền lẻ. Nhân viên thu phí không đồng ý và yêu cầu cho xe vào làn chờ. Lúc này một CSGT Công an Tiền Giang yêu cầu tài xế này trình giấy tờ xe. 
    Video tạm dừng
    Lực lượng chức năng đưa những người quá khích khỏi hiện trường - Video: H.L
    Sau khi trình giấy tờ xe và bằng lái thì vị công an này mang đi và yêu cầu cẩu xe 61A 276... đi chỗ khác. Bức xúc trước hành động này, nhiều người đã vây quanh đại tá Trần Hoài Bảo, trưởng phòng CSGT đường bộ - đường sắt Công an Tiền Giang, yêu cầu trả bằng lái xe cho tài xế. 
    Phải hơn 10 phút đôi co, tài xế vẫn chưa nhận lại được bằng lái nên nhiều người đã vây kín khu vực thu phí khiến giao thông chiều từ TP.HCM - Mỹ Thuận tê liệt. Đến khi hơn 20 cảnh sát cơ động được điều đến thì trật tự mới vãn hồi.
    Trong buổi chiều 30-11, công an huyện Cai Lậy đã đưa hai tài xế về trụ sở để làm việc, do cho rằng hai người này gây rối, kích động.
    Trả lời vì sao lực lượng công an đưa những chủ xe trả tiền lẻ vào khu vực riêng, đại tá Trương Văn Sáng - trưởng công an huyện Cai Lậy - cho biết việc mời các tài xế ra khỏi làn thu phí trong ngày 30-11 là đúng theo quy định pháp luật.
    Theo đại tá Sáng, những tài xế xe này cố tình gây cản trở giao thông khiến kẹt xe trên quốc lộ 1. "Chúng tôi đang củng cố chứng cứ để xử lý hai trường hợp này theo quy định. Tuy nhiên, xử lý về tội gì thì sẽ thông tin sau", ông Sáng nói.
    Cảnh sát can thiệp BOT Cai Lậy đúng hay sai? - Ảnh 4.
    Lực lượng chức năng đem xe cứu hộ đến trạm phu phí BOT Cai Lậy cẩu xe nhưng bất thành - Ảnh: THANH TÚ
    Việc lực lượng cảnh sát túc trực để điều tiết, giữ gìn trật tự, đề phòng, xử lý hành vi gây rối (nếu có) tại trạm thu phí là cần thiết. Tuy nhiên, phải khẳng định ngay việc tài xế dùng tiền lẻ hay chẵn là quyền của tài xế, không vi phạm pháp luật. Mệnh giá tiền bao nhiêu hoặc phương thức thanh toán nào khác phù hợp (cà thẻ nếu có) giữa tài xế và trạm thu phí là quan hệ dân sự đơn thuần", luật sư Thắng nói.
    Theo luật sư, rắc rối phát sinh giữa tài xế và trạm thu phí chỉ là các bên chưa sử dụng phương thức thanh toán phù hợp. Rắc rối đó, phía tài xế chỉ là thiếu thiện chí trong thanh toán (nếu có) nhưng lỗi của trạm thu phí lớn hơn. Bởi lẽ trạm buộc tài xế đóng phí nhưng lại không chuẩn bị đầy đủ công cụ, phương thức thanh toán. Đó là chưa kể đến việc đặt trạm thu phí tại vị trí đó để thu tiền là chưa đúng.
    "Như vậy, lực lượng cảnh sát giao thông tham gia giải quyết rắc rối đó bằng cách thu giữ bằng lái, giấy tờ xe của tài xế là hành vi trái luật", ông Thắng khẳng định.
    Theo quy định, cảnh sát giao thông chỉ được quyền kiểm tra, giữ giấy tờ, bằng lái của tài xế khi xử lý vi phạm hành chính về giao thông. Trường hợp giữ giấy tờ, bằng lái để xử lý vi phạm giao thông thì phải lập biên bản đầy đủ. 
    Trường hợp nếu cần xử lý hình sự tài xế vì cho rằng có dấu hiệu vi phạm về hành vi gây rối trật tự thì thẩm quyền cũng không thuộc về cảnh sát giao thông.
    Trường hợp cảnh sát giao thông giữ giấy tờ, bằng lái của tài xế không đúng quy định thì tài xế hoàn toàn có quyền khiếu nại thủ trưởng cơ quan công an để xử lý hoặc khởi kiện hành chính.
    Về trường hợp một tài xế thiếu tiền qua trạm do người này trả tiền qua thẻ nhưng trạm không có nơi cà thẻ, dẫn đến trạm thu phí tạm giữ CMND của tài xế là trái quy định pháp luật.
    Cụ thể, theo quy định nghị định số 05/1999/NĐ-CP thì CMND bị tạm giữ khi có hành vi vi phạm hành chính theo quy định pháp luật, hoặc bị tạm giam, chấp hành án phạt tù, chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng...
    Như vậy, CMND chỉ bị tạm giữ bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo luật định.
    Trường hợp tài xế thiếu tiền mặt, đưa thẻ cho trạm quẹt nhưng trạm lại không bố trí máy quẹt thì đó là lỗi của trạm. Với việc lập biên bản để tạm giữ CMND của tài xế như vậy là trái quy định.



    https://tuoitre.vn/canh-sat-can-thiep-bot-cai-lay-dung-hay-sai-20171201094027184.htm

    Người dân tiếp tục phản đối, bất chấp trạm thu phí Cai Lậy giảm giá


    Người dân tiếp tục phản đối, bất chấp trạm thu phí Cai Lậy giảm giá

    Trưa ngày 30/11, tình trạng kẹt xe lại tiếp diễn. Ảnh: Tuổi Trẻ
    Từ khoảng 9 giờ sáng ngày 30/11, trạm thu phí Cai Lậy trở nên quá tải khi rất đông tài xế tại đây không dung tiền lẻ như trước đây để phản đối, mà chuyển sang sử dụng tiền có mệnh giá 500 ngàn để mua vé khi qua trạm.
    Hơn 3 tháng kể từ khi trạm thu phí Cai Lậy phải phải dừng hoạt động do làn sóng phản đối từ cánh tài xế. Vào sáng ngày 30/11, trạm đã đi vào hoạt động trở lại. Chủ đầu tư trạm thu phí đã quyết định giảm giá 30% đối với các loại phương tiện xe khi đi qua đây. Đối với xe dưới 12 chỗ chỉ còn 25 ngàn đồng/lượt; đối với xe trên 18 tấn là 140 ngàn đồng/lượt. Tuy nhiên, đó không phải là yêu cầu mà cánh tài xế đã yêu sách đối với chủ đầu tư. Họ đòi hỏi trạm thu phí phải di dời, đưa về đúng vị trí là tuyến đường tránh, nơi mà chủ đầu tư đã bỏ tiền ra để làm đường, chứ không phải là đặt ngay trên đường Quốc lộ 1.
    Bảo vệ trạm thu phí ngăn cản không cho phóng viên tác nghiệp. Ảnh: Vietnammoi
    Để đối phó với việc tài xế sẽ sử dụng tiền lẻ nhằm phản đối với trạm thu phí, chủ đầu tư đã bố trí thêm 2 bãi chỉ để dành riêng cho những tài xế nào sử dụng tiền lẻ khi qua trạm. Với mỗi bãi có sức chứa từ 20-25 xe thừa sức ngăn chặn được việc tài xế dung tiền lẻ để phản đối.
    Phải nói rằng, việc dung tiền lẻ để phản đối của cánh tài xế là việc làm hết sức thông minh, nó tạo ra nguồn động lực cho những người khác lên tiếng phản đối. Điều này khiến cho giới đầu tư mà đằng sau đó là những lãnh đạo cấp cao phải lo lắng, vì nếu không có biện pháp hữu hiệu ngăn chặn, nó có thể kéo theo sự sụp đổ có hệ thống các trạm thu phí theo mô hình BOT trên khắp cả Việt Nam. Bên cạnh đó, nhờ sự trợ giúp của giới truyền thông, báo chí nên những người hành nghề chạy đường xa có thêm sức mạnh.
    Cũng nhờ cánh tài xế phản ứng mạnh đối với trạm thu phí, nên một loạt các trạm thu phí trên cả nước đã phải giảm cước phí và hoàn toàn miễn phí cho dân cư địa phương. Đây là điều trước đây chưa hề xảy ra.
    Ngay trong ngày đầu trạm thu phí Cai Lậy thu phí trở lại, trên trang fanpage Bạn Hữu Đường Xa đã có lời kêu gọi các thành viên thay vì sử dụng tiền lẻ, hãy sử dụng tiền có mệnh giá 500 ngàn khi đi qua trạm. Điều này sẽ khiến cho nhân viên đứng quầy mất nhiều thời gian đếm và trả tiền cho khách.
    Tin từ trạm thu phí Cai Lậy cho biết, lực lượng Cảnh sát giao thong tỉnh Tiền Giang đã bố trí ngay tại trạm một chiếc xe cẩu, bất kỳ xe nào sử dụng tiền lẻ khi qua trạm sẽ được cầu sang bãi dành cho xe sử dụng tiền lẻ. Những cảnh sát giao thông này rất nhã nhặn, họ không phản ứng trước việc tài xế dùng tiền lẻ, mà chỉ nhắc nhở không nên gây ách tắc.
    Tuy vậy, đến trưa cùng ngày, tình trạng kẹt xe lại diễn ra với chiều dài hơn 1km. Nguyên nhân là do giới tài xế đã hẹn nhau trước đó, dùng tiền lẻ để qua trạm khiến cho nhân viên không kịp đếm tiền và thối cho khách.

    Có một sự việc hết sức nực cười, vào buổi sáng trước khi trạm thu phí Cai Lậy bắt đầu hoạt động trở lại, rất đông đảo cánh phóng viên, báo chí đến đây tác nghiệp để xem phản ứng của dân chúng. Tuy nhiên, bảo vệ trạm thu phí đã có hành động ngăn cản, xua đuổi không cho phóng viên làm tròn bổn phận của mình
    http://www.baocalitoday.com/viet-nam/nguoi-dan-tiep-tuc-phan-doi-bat-chap-tram-thu-phi-cai-lay-giam-gia.html

    Thứ Hai, 27 tháng 11, 2017

    ĐỌC LẠI “MỘT CƠN GIÓ BỤI” CỦA TRẦN TRỌNG KIM

    ĐỌC LẠI “MỘT CƠN GIÓ BỤI” CỦA TRẦN TRỌNG KIM

    Năm 1945 Thế Chiến II kết thúc. Đầu năm này, Nhật đảo chánh Pháp ở Đông Dương.  Sau cuộc đảo chánh, Nhật tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam và tiếp tục cho hoàng đế Bảo Đại tại vị.
    Ngày 17/4/1945 nội các Trần Trọng Kim thành lập. Đây là chính phủ dân chủ đầu tiên của Việt Nam.  Tuy chi tại chức có 4 tháng nhưng thủ tướng họ Trần và nội các của ông đã thực hiện được một số việc trọng đại cho đất nước.
    Thành tích quan trọng nhất mà chính phủ Trần Trọng Kim đã thực hiện được là thâu hồi độc lập cho tổ quốc : ngày 20/7/1945 toàn quyền Nhật Tsuchihachi đồng ý trả lại ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng,  Đà Nẵng  và ngày 8/8/1945 trao trả Nam Bộ cho chính quyền trung ương.
    Thủ tướng Trần trọng Kim đã thu hồi trọn vẹn lãnh thổ của tổ quốc từ tay phát xít Nhật mà không tốn một giọt máu. Nhưng ngay sau khi được thu hồi, nền độc lập này đã bị Việt Minh phá hỏng và hậu quả là đất nước đã bị điêu linh trong chiến tranh, chết chóc, thù hận và tụt hậu,như mọi người đều đã thấy.                                                                   
    *
    Thủ tướng Trần Trọng Kim sinh năm 1883 tại Hà Tĩnh.   Năm1905 ông sang Pháp du học tại trường sư phạm Melun.  Năm 1911 ông về nước làm nghề dạy học.  Năm 1942 ông giữ chức thanh tra tiểu học miền Bắc. Ngày 2/4/1945  ông được vua Bảo Đại vời ra Huế.  Ngày 16/4/1945  ng chấp nhận đề nghị của vua Bảo  Đại, đứng ra lập chính phủ.
    Mười một ngày sau khi Nhật trao trả toàn bộ lãnh thổ do Pháp chiếm giữ cho Việt Nam thì Viêt Minh đã phá hỏng nền độc lập và thống nhất ấy và thay thế vào đó bằng một cuộc chiến 30  năm “nồi da xáo thịt”. 
    Ngày 2/9/1945 chính phủ Trần Trọng Kim ra lệnh cho công chức tổ chức một cuộc biểu tình ủng hộ chính phủ. Lợi dụng cuộc biểu tình này. Việt Minh phát động một cưộc tổng nổi dậy cướp chính quyền.  Quân đội Nhật ngỏ lời giúp đàn áp Việt Minh, nhưng  thủ tướng họ Trần, vì thương dân, không đồng ý.  Sau đó ông đã giải tán nội các và khuyên vua Bảo Đại thoái vị.  Chính vì vậy mà Việt Minh đã thành công trong việc cướp chính quyển và đã làm cho nhân dân Việt Nam khốn khổ từ ngày đó cho đến ngày nay, khổ nạn này vẫn chưa chấm dứt.
    Cho nên nếu nói vể “cách mạng mùa Thu” ở Việt Nam thì phải nói đến cuộc cách mạng dân chủ ngày 8/8/1945 của chính phủ Trần trọng Kim, còn cuộc đảo chánh ngày 19/8/1945 của Việt Minh chỉ là một cuộc phá hoại.
    Di huấn Trần Trọng Kim
    Năm 1949 thủ tướng Trần Trọng Kim đã cho xuất bản một cuốn hồi ký mang tên “Một Cơn Gió Bụi”.  Đây là một cuốn lịch sử qúy gía gồm  12  chương mà tất cả chúng ta đều phải đọc và không những chỉ đọc không thôi mà cỏn phải nghiền ngẫm qua thời gian, để thấu triệt lịch sử dân tộc.
    Đặc biệt chúng tôi xin giới thiệu Chương số 7 mà đã là người Việt Nam thì ai cũng nên học thuộc lòng. Chương này mang tên “Tôn Chỉ Và Sự Hành Động Của Đảng CSVN”.
    Chúng tôi xin được viết bằng chữ nghiêng để qúy vị dễ theo dõi trong những đoạn viết sau đây . Xin qúy vị đọc tiếp. 
    “Cộng sản đảng theo cách tổ chức và hành động của họ là một thứ tôn giáo mới, giống như các tôn giáo cũ lấy sự mê tín mà tin, chứ không hoài nghi hay đi trệch ra ngoài.  Song các tôn giáo cũ nói có cõi trời, có thiên đường là nơi cực lạc.  Cộng sản giáo ngày nay hoàn toàn duy vật tất không ai thờ phụng thần thánh nào khác nữa mà nhât thiết phải sùng ái những người như Karl Marx, Lenin, Stalin để thay những bậc thần thánh cũ bị truất bò.
    Đã mê cái đạo ấy và đã coi lý thuyết ấy là chân lý tuyệt đối thì ngoài cái lý thuyết ấy ra, là tà giáo, là tà đạo. Ai  không tin và phản đối những người đứng  đầu đảng, tức những bậc giáo chủ, thì là những người phản đạo, tất phải nghiêm trị.  Vì vậy mới có sự tàn sát những người cộng sản theo Trotsky (cộng sản Đệ Tứ Quốc Tế) là một chi cộng sản phản đối chủ nghĩa cộng sản Đệ Tam Quốc Tế. 
    Vậy tín đồ cộng sản phải là những người cuồng tín chỉ biết có đời sống vật chất mà thôi, ngoài ra không có gì nữa. Về đường thực tế, các đặc sắc của cộng sản là không nhận có luân thường đạo lý, không biết có nhân nghĩa đạo đức như người ta vẫn tin tưởng.
    Người cộng sản cho cái điều đó là hủ tục của xã hội phong kiến thời xưa, đặt ra để lừa dối dân chúng nên họ tìm cách bỏ hết. Vì có tư tưởng như thế nên cha con anh em, bạn bè, không có tình nghĩa gì cả, chỉ biết tôn trọng chủ nghĩa cộng sản và phục tùng những người cầm quyền của đảng, ngoại giả giết hại lẫn nhau, lừa đảo nhau. Hễ ai làm những việc mà có lợi cho đảng thì là người giỏi, người tốt.  Gia đình, xã hội, phong tục, chế độ cũ, đều bỏ hết, bỏ đến tận cỗi rễ để hành lập xã hội mới. 
    Cái xã hội mới ấy không đấu tranh cho quốc gia hay cho dân tộc. Dù có nói tình đầu cho quốc gia hay cho dân tộc nữa thì cũng chỉ là phương pháp dùng tạm thời trong một cơ hội nào đó để cho được việc mà thôi, chứ mục đích cốt yếu là tranh đấu cho giai cấp vô sản.
    Khi ở đâu sự tranh đấu cho giai cấp ấy được thắng lợi thì cứ tranh đấu mãi để bảo vệ quyền lới cho giai cấp ấy và xóa bỏ hết cương giới giữa nước nọ với nước kia để thực hiện một thế giới đại đồng đặt dưới quyền chỉ huy của giáo chủ cộng sản ở bên Nga. Nước nào không theo chế độ cộng sản thì bị trục xuất ngay ra khỏi hệ thống cộng sản. 
    Cái phương thuật của đảng cộng sản Nga không khéo ở chỗ ấy. Tuy nói rằng bài trừ đế quốc và tiêu diệt độc tài nhưng lại áp dụng độc tài tàn ác hơn thời xưa và gây ra một thứ đế quốc theo một danh hiệu khác để tự mình thống trị hết thiên hạ. Chẳn khác gì thời xưa  bên Tàu các chư hầu phải phục tùng mệnh lệnh thiên tử. 
    Thì ra thế gian này chẳng có gì mới lạ : chế độ cộng sản ở nước Nga chẳng  khác gì chế độ nhà Tần bên Tàu thời Chiến Quốc.  Có khác chỉ là những phương tiện khoa học và những mánh khoé hiện thời mà thôi, còn thì cũng tàn bạo gian trá, cũng dùng những âm mưu qủy quyệt để thống trị hết các nước.  
    Về hành động thì đảng cộng sản chyên dùng những âm mưu xảo trá, nên tuy có thắng lợi thì cũng được ít người trí thức đi theo. Vì thế mà họ bài trừ trí thức và chỉ ưa dùng đàn bà trẻ con và những người lao động là những người dễ khuyến dụ, dễ lừa dối. 
    Người cộng sản khi đã hành động hay dùng đến hai chữ “giải phóng”. Cần phải hiểu rõ nghĩa của hai chữ ấy.  Có phải trước kia có cái cũi giam người, bây giờ họ đem cái cũi mới để bên cạnh rồi bảo người ta chạy sang  cái cũi mới ấy, đó là giải phóng theo kiểu cộng sản.
    Các chế độ cộng sản giống như in các chế độ chuyên chế thời xưa. Ai nói xấu và công kích thì bị đầy bị giết. Ai không sốt sắng thì bị tình nghi phải chịu mọi điều phiền khổ.  Cả nước bị chính quyền theo dõi bởi những toán trinh thám tố cáo hết người này đến người khác. Thành ra nhân dân trong xã hội không biết ai là bạn ai là thù, mất hẳn sinh thú ở đời.
    Trong những lời tuyên truyền của Việt Minh thấy luôn luôn nào là hạnh phúc nào là tự do nào là bình đẳng nhưng thực sự thì là trái ngược tất cả. Tất cả chỉ là nói dối và lừa bịp, giết hại. tàn phá, miễn sao làm cho người ta mắc lừa hay sợ sệt theo mình là được.  Đó là cái thủ đoạn của Việt Minh.  Dân tình thấy thế lấy làm ngao ngán nhưng không dám nói ra. Cho nên trong dân gian đã có câu nói như “Vẹm”.  Vẹm là do hai chữ viết tắt VM đọc nhanh mà thành ra”. ( hết trích). 
    Những đoạn văn bằng chữ nghiêng nói trên là di huấn của thủ tướng họ Trần truyền lại cho con cháu. Từ nhiều thập kỷ qua những người cộng sản đã gây ra những điều di hại lâu dài cho đất nước Việt Nam.  Chẳng cần nhắc lại thì ai cũng biết là sau hơn 70 năm cầm quyền, Việt Cộng đã gây ra những điều ác độc như thế nào, những điều ác độc mà thủ tướng họ Trần đã báo động trong di chúc của người.
    Tương lai của Việt Nam sẽ ra sao ?

    Tương lai của Việt Nam có bi quan lắm hay không ? Câu trả là không.
    Đất nước ta đang đứng trước môt vận hội mới vì đảng cộng sản và chế độ đương quyền đang phải chịu một cơn bão lớn của lịch sử. Cơn bão đó đang xóa sạch chế độ độc tài toàn trị trên địa bàn thế giới, và do đó, đất nước ta, dân tộc ta sẽ sớm phục hồi và đi vào một tương lai tươi sáng.  Đó là một thực tế đang mỗi ngày được khẳng định.

    Phải nói rằng. trên thế giới hiện nay, chủ nghĩa cộng sản đã cáo chung. Số phận này sẽ nhanh chóng đến với Việt Nam.  Yếu tố thực tiễn này, chúng ta cần nắm bắt và tin tưởng. Vấn đề còn lại chỉ là thời gian sớm hay muộn, và với tình hình chính trị quốc tế hiện nay thì có thể là rất sớm.
    Sau hơn 70 năm kiên trì đấu tranh cho lý tưởng tự do dân chủ, người Việt tự do đang buộc Việt Cộng phải sửa sai, phải từng bước mỗi ngày một tiếp cận gần hơn với phía dân chủ và trả lại cho dân tộc các nhân quyền căn bản.
    Có thể nói là CSVN đang ở trên quá trình tiêu vong và đang bước vào giai đoạn cuối cùng. Thật vậy, vì tham nhũng, cán bộ đảng viên cộng sãn đang được tư sản hóa, nhà nước cộng sản đang được tư bản hóa, còn chế  độ cộng sản thì đang phải dân chủ hóa.  Đó là con đường phát triển tất yếu và không còn con đường nào khác.